Mail To Us
dokhigio

______________________________________________

Đây là Template BackUp trang sinh-hoạt "cvatoronto.blogspot.com" của các cựu học-sinh CVA Toronto(Canada) và thân-hữu trong mục đích phát triển tình đồng môn cũng như kết chặt tình thân giữa các thành viên.
Trang này chỉ back-up các bài của Đồ Khỉ Gió mà thôi.

___________________________________________________________________________________

Friday, March 27, 2009

SàiGòn Năm Qua Ta Về Thăm


Cũng tháng này năm ngoái ĐKG có dịp về thăm lại Sàigòn, thăm lại những con đường cũ, đặc biệt là con đường Gia Long khúc sau lưng Tòa Sàigòn giữa 2 hàng lá me êm dịu, rực rỡ . Trung tâm Sàigòn vẫn không thay đổi, vẫn thơ mộng, vẫn cà-phê vĩa hè, nhạc vàng tình cảm. Sáng nào ĐKG cũng xách Honda ra cà-phê Điện Ảnh (góc Trần Tế Xương và đường Gia long cũ bây giờ là Nguyễn thị Minh Khai uống cà phê Trung Nguyên, cái nồi ngồi trên cái cốc nghe nhạc vàng bao quanh, thòi gian như ngừng trôi, ĐKG cảm thấy cuộc đời không có gì thay đổi, cái không khí của mấy chục năm về trước bây giờ là đây, cái tâm hồn của mấy chục năm trớc bây giờ cũng là đây. (Nói như bác VĐ đi một vòng rồi lẫn quẩn trở về chỗ cũ , cái qũy đạo cà phê của bác cũng là cái con đuòng mòn mà ĐKG đã gặp).
http://cvatoronto.blogspot.com/2005/11/sign-nm-qua-ta-v-thm.html


FBấm Đọc Tiếp !

@Đã Có 0 Lời Bàn - Bấm Để Vào Phần Thảo Luận


_______________________________________________________________________

Monday, May 12, 2008

Cam On Da Biec

Bên đời đá biếc nở hoa
Cát khô khơi sóng, tình xa khơi ngàn
Tái sinh từ cõi muộn màng
Vượt qua trũng chết buộc ràng tóc tơ.
đkg


FBấm Đọc Tiếp !

@Đã Có 1 Lời Bàn - Bấm Để Vào Phần Thảo Luận


_______________________________________________________________________
Blogger Đồ Khỉ Gió :

11 Nhận xét:

*

Tại 28/3/07 19:58 , Blogger namdde nói...

Ba^y gio*` Khi? gio' mo^.ng mo*
Nhu* khi mu*o*`i sa'u ti`nh tho* nga`y na`o
DDa' xanh dda' cha(?ng thay ma`u
Nhu* ti`nh Khi? gio' dda^u na`o nha.t phai ..
N.D.

*

Tại 28/3/07 22:56 , Blogger bbt nói...

No+? hoa dda' bie^'c nga^.m ngui`
Ti`nh xa ngo+ nga^?n, ngo.t bui`, dda('ng cay.
Ta'i sanh va`o gia^'c mo^.ng say.
Ti?nh co+n mo^.ng dde.p mo+'i hay ti`nh sa^`u
bbt

*

Tại 29/3/07 01:05 , Blogger Ðồ Lãng Xẹt nói...

Trong ru+`ng, Khi? ddi ha'i hoa,
DDem ta(.ng So+n Nu+~ xem ra cu~ng ti`nh.
La~o Tie^`u qua(?ng ga'nh ddu+'ng ri`nh,
DDu'ng la` Khi? Gio', co^.t mi`nh ro^`i siu?


:-)))

DLX

*

Tại 30/3/07 05:27 , Blogger Đồ Khỉ Gió nói...

Các bác ui,
hồi còn trẻ thì đkg cứ hăm hở chạy tới mà sống, quên đi thưởng thức những cái hay, cái đẹp xung quanh mình... bây giờ cuối đời rồi, nói như Trịnh công Sơn:
cuối đời còn gì nữa đâu
đã tàn mộng mị khát khao
...thì mới biết trân trọng cuộc đời, trân trọng những gì thi vị đã và đang gặp, nên lúc nào đkg cũng cám ơn người đã cho mình những giây phút nở hoa của hồi mười sáu. Than ôi khi con tim bắt bắt đầu rung động thì...còn đây có bao ngày ?
đôi khi con tim hò hẹn
ngậm ngùi vì một ngày mưa bắt đầu
Cám ơn các bác!.

*

Tại 30/3/07 12:01 , Blogger KQĐ nói...

Có duyên ràng buộc dây tơ
Tái sinh, tái nạm, tình mơ với tình
Không duyên sẽ mãi chùng chình
Đắn đo ước lượng, ta-mình kiếp sau

Sao mờ bác ĐKG ...tham lam thế nhễ!
Đã biết "còn đây có bao ngày" thế thì sao không tận hưởng đi còn ngồi đó "than ôi" với chả "than hỡi"!

Cuộc đời con người có bao giờ mà "tàn mộng mị khát khao", theo Khách tui . Có chăng là mộng của từng thời khác nhau và vẫn mộng, vẫn khát khao . Nếu không thế bác ĐKG đã chả có lại được "những giây phút nở hoa của hồi mười sáu".
Nếu qủa đã "khát khao" và biết không còn lại bao nhiêu năm của cuộc đời thì ...tới luôn bác tài chứ mờ cứ "thiếp đầu sông, tui cuối sông" ngày ngày ngóng trông, í dạ!
Còn mờ "khát khao" lại nhắm mình không làm Tạc-Dzăng đu dây vượt sông nổi thì cũng nên thực tế mờ ...bỏ đi tám!

Khách tui le lưỡi rùi dzọt trước khi không phải đầu cũng phải tai khi miểng văng từ đầu sông Tương đến cuối sông Tư!

Hahaha! Thiện tai! Thiện tai!

KQĐ

*

Tại 30/3/07 20:31 , Blogger Hương Mai nói...

Bên đời Đá biếc có Hoa
Từ đây Đá sẽ rời xa ngày buồn
Đá Hoa giờ đã chung đường
Tình xa xum hợp yêu thương muôn đời .

Chúc mừng anh Khải đã tìm được một nửa của anh để cùng anh chia sẻ hạnh phúc của một nửa đời còn lại

Mến
Hương Mai

*

Tại 30/3/07 21:28 , Blogger nguyenchihiep nói...

Tình Phôi Phai

Bao nhiêu năm ta về tìm lại
Dấu ngày xưa trên bờ vai em
Giờ nay đã khô cằn sỏi đá
Giờ nay mang vết nhăn nhiều thêm

Ta nhìn thấy nghe lòng chua xót
Tiếc thương em , tiếc thương đời người
Ngày xuân mộng sao nhanh qua hết
Để tàn phai nét hương tuyệt vời

Em hỡi ! Xin em giòng lệ ứa
Khóc cho tình hay khóc cho mình
Hay cho ta những gì còn sót
Trong cõi tình những gì đẹp xinh

Ôi , trôi đi mau đời nhân thế
Đến một mai nghìn năm ta về
Nằm trên dốc ngủ yên trọn kiếp
Hết sầu thương những phút đam mê

Đông Hòa
01.04.07

*

Tại 30/3/07 23:40 , Blogger doliem nói...

Cuối đời “” đá biếc nở hoa “”
Bên em “”cát bỏng tình xa “” cũng gần
Ơn đời , một cõi tái sinh
Ơn em, tơ tóc buộc mình với nhau

ĐL

*

Tại 31/3/07 12:14 , Blogger Đồ Khỉ Gió nói...

Lời bàn của Lốc Cốc Tử Tiên Sư đkg (không phải đkg tự chửi mình à nhen!).

-Bác NĐ: bác là người nhanh nhẩu, dễ thụ cảm trong đời sống. Thơ bác còn ngọt lắm, xin tiếp tục. Ngày nào chánh thức đkg sẽ gửi thiệp cho bác.

-Bác BBT: Có mối tình nào còn làm bác ngơ ngẩn không bác ?. Bác nói theo kinh nghiệm hay theo triết lý ?. Thơ bác hay lắm.

-Bác ĐLX: Ngoài nghề dạy học bác còn nghề thám tử xuất sắc, nhất là trong rừng sâu. Bái phục.

-Bác KQĐ: Bác quả là người có kinh nghiệm trong tình trường. Chắc bác chưa hề thất tình hay tương tư bao giờ!. ĐKG xin theo lời khuyên của bác, nếu có gì thì sẽ đem bác ra mà trách cứ ...:-).

Bác HM: Cái gì cũng có số héng (kể cả giày dép...). Mong rằng đkg tìm được nửa mảnh kia của mình mà ráp lại cho hạp...không thì....đkg trở thành triết gia vậy :-).

-Bác ĐH: Ngoài tài làm thơ bác quả là còn tài....tâm linh, đi tu thì bác sẽ mau thành chánh quả :-).

-Bác ĐL: Bác quả có hồng phúc hơn người nên mới biết cám ơn đời, cám ơn em của bác. Xin ráng mà giữ lấy và tận hưởng. Dạo này ít thấy thơ của bác ? Còn uống bia không ?.

*

Tại 31/3/07 13:04 , Blogger nguyenchihiep nói...

Thoáng Xưa

Về thăm lối cũ lúc trăng tàn
Hiu hắt đèn khuya bóng đã tan
Cạnh bến liễu trầm nương gió lạnh
Bên trời núi biếc tựa mây ngàn
Nhìn qua chốn cũ hồn lưu luyến
Ngắm lại nơi xưa lệ chứa chan
Buồn bã khi ve sầu cất tiếng
Tai nghe tưởng nhớ đến cung đàn

Đông Hoà
31.03.07

*

Tại 31/3/07 13:46 , Blogger KQĐ nói...

- Bác KQĐ: Bác quả là người có kinh nghiệm trong tình trường. Chắc bác chưa hề thất tình hay tương tư bao giờ!. ĐKG xin theo lời khuyên của bác, nếu có gì thì sẽ đem bác ra mà trách cứ ...:-).
ĐKG


Trước hết nà Khách tui xin cung hỉ, cung hỉ bác ĐKG đã làm Tạc-Dzăng đu dây được tới bến, tới luôn biển Tây!

Bây chừ bàn chiện tương ớt cho cả quán có chiện để tán tiếp héng.
Lần đầu tiên Khách tui thấy bác ĐKG noái chiện câu trước ...đá câu sau! Haha, khoan chửi nghen . Có ai bảo người có "kinh nghiệm" trong tình trường mà lại phán tiếp là "chưa thất tình hay tương tư bao giờ"! Chán bác thiệt! Mà thui, thông cảm cho bác đang lơ lửng trên đỉnh hạnh phúc, có lơ tơ mơ cũng dễ hiểu .

Khách tui là con người óp-tơ-mít-sờ-tịt, nên có thất tình có tương tư cũng ráng mờ nhìn cuộc tình ở khía cạnh khác cho đỡ "vả". Tương tư thì bất wá ...hộc máu như Lương Sơn Bá là cùng chứ nhất định không nà không bao giờ để cho người ta phải áy náy vì mình, nhất là biết được mình không được yêu lại .
Nhưng mờ vầy, trước khi bị hộc máu, các bác nhớ phải dùng "tuyệt chiêu": đẹp chai hông bằng chai mặt trước, nghen.
Ngồi lỳ ở trước am lâu lâu cũng được người ta ngó mình một cái, đủ rùi .

Bác ĐKG làm thì tự mình ên chịu/hưởng chứ mắc chi mờ đòi đem Khách tui ra trách cứ hè? Khách tui không xúi thì "gạo cũng đã thành cơm".
Mà nì, bác muốn trách cứ Khách tui, rứa bác có chịu nghe theo nhời của Khách tui nữa hông?

Hahaha! Thiện tai! Thiện tai!

KQĐ

8:41 AM  

Bấm Vào Đây Để Thêm Ý Kiến

Trở Lại Trang Chính

Thursday, November 08, 2007

Thiep Hong Bao Tin

Cả hai thuyền lạ phiêu trên biển
Bổng một ngày kia đổ một bờ
(Xuân Diệu)

Rồi se tơ kết tóc - giam nhau vào lòng thôi
(Phạm Duy)

Oui devant dieu
devant les hommes
Oui prends mes jours
je te les donne
Et plus que tout mieux que personne
Je t'aimerai toujours
Et je prierai toujours
(Maurice Tézé - J. Prieto)

Đây phút linh thiêng đã khởi đầu
(Hàn Mặc Tử)

The Prayer
Céline Dion - Andrea Bocelli


FBấm Đọc Tiếp !

@Đã Có 1 Lời Bàn - Bấm Để Vào Phần Thảo Luận


_______________________________________________________________________
Blogger Đồ Khỉ Gió :

Ðồ Lãng Xẹt said...
BÁO CÁO TIN VUI


Sáng nay, vừa thức dậy
Mở I Meo, Xẹt thấy giấy ai treo.
Xẹt đeo kính, Xẹt nheo con mắt,
Hóa tờ thư Khỉ mắc tối qua.
Trời đất! Hóa ra Bác Khỉ nhà ta
Sẽ thành gia thất, thế là đời yên.
Cầu chúc đôi trẻ triền miên
Sống trong hạnh phúc như Tiên trên đờị.
Xẹt gửi Ðôi Trẻ tiếng cười
Chỉ Cười, không Cãi hai người mí nhau!

Xẹt phải đóng meo thật mau:
Bà, Cháu đang đợi cùng nhau ra ngoài.
Thôi nhé, Xẹt “xây Gút Bai”
Ðể cùng “gia thất” ra ngoài Park chơi! :-)))

Congratulations and Best wishes to Bích Ngọc and TM Khải!

Ðàm Trung Phán
Dương Bích Nga
Mississauga, Canada

6/11/07 08:49


hoalai said...
Vừa vào check mail, thấy thiệp hồng rất đẹp của BN và anh đkg, hl mừng lắm lắm. Thấy cuộc đời thật hạnh phúc vì có 2 tâm hồn đã tìm thấy nhau và sẽ cùng với nhau chia xẻ quãng đời có nhau.

hl nghe ND sẽ có mặt ở Cali vào cuối tháng 12, tiếc ơi là tiếc vì hl sẽ đi South America từ ngày 20 tháng 12 và về lại ngày 11 tháng 1, 2008. Nhưng nếu có dịp nào ghé Cali nữa, hy vọng sẽ gặp được các bạn trong blog.

Xin thành thật chia vui cùng BN và anh MK.

hl và đlh

9/11/07 00:05


doliem said...
Gởi ĐKG,
Xin bắt chước Nguyễn Du:
“”Trăm năm trong cõi người ta””
Chữ tình chữ lụy khó mà ghét nhau
“” Trãi qua những cuộc bễ dâu””
Hồng mhan quân tử sánh đôi muôn đời

ĐL

10/11/07 00:46


viet said...
Xin chúc mừng anh chị Bích Ngọc & Minh Khải ( ĐKG ).

Hy vọng sau hôn lễ , sẽ được gặp đôi uyên ương honeymoon tại Toronto .

Cheers.



12/11/07 10:58


KQĐ said...
Chúc mừng Khỉ Gió sang ngang
Sánh đôi Bích Ngọc chung đàng yên vui
(Các bác nào muốn nối đuôi
Cứ theo Khỉ Gió tìm người Cali
Hahaha)

Chúc mừng bác Đồ Khỉ Gió cùng cô nương Bích Ngọc. Mùa Đông năm ni tha hồ mà ấm hỉ .

KQĐ

12/11/07 18:01

2:43 AM  

Bấm Vào Đây Để Thêm Ý Kiến

Trở Lại Trang Chính

Monday, October 08, 2007

Đầu Năm Đinh Hợi Nói Chuyện....Trư Bát Giới



Đầu Năm Đinh Hợi nói chuyện...Trư Bát Giới
đồ khỉ gió

-Nếu Tôn Ngộ Không là người để cho chúng ta vị nể vì Tài Năng, vì Lý Trí; Đường Tam Tạng là người để chúng ta kính trọng vì tấm lòng Từ Bi và sự Quyết Tâm thì Trư Bát Giới là người gần gủi với chúng ta hơn hết, gần gủi với những khuyết điểm cũng như ưu điểm. Vì vậy khi đọc chuyện Tây-Du, nhân vật làm cho chúng ta Thương, Ghét, Cười, Giận, hay Bực mình chính là Trư Bát Giới mà thực sự cũng là hình ảnh của đại đa số con ngườI chúng ta trong cuộc sống. Bát Giới tánh tình tham mê nhục dục, thích rượu chè, nữ sắc, thích ăn uống và làm biếng, đâm thọt, thị phi… nhưng rất có tài xử dụng ngôn ngữ, biết dùng lời ngon ngọt, xảo trá để mê hoặc lòng người; lại biết đánh đúng vào yếu điểm tâm lý của người nghe, vì thế mà Đường tăng Tam Tạng ưa nghe theo… Bát giới là tập hợp những bản năng rất vật dục tầm thường nơi con người và là sự ngăn trở to lớn cho con đường hành đạo giải thoát.

-Nói như Vô-Vi thì Linh Hồn Bát Giới bị giam vào khám lớn là Bao Tử nên tham ăn, lúc nào cũng nghĩ tới ăn, bị giam vào Hạ bộ nên lúc nào cũng nghĩ tới nhục dục, bị giam vào Thân xác nên lúc nào cũng làm biếng…. Phần trí của Bát Giới cũng bị giam hãm tù tối nên chưa nhìn thấy rõ mình mà bị chủ động hoàn toàn bởi Tham, Si, Dèm pha, Thi Phi, Trần Trược của Bản Năng …….Có thể nói trong con nguời Bá t Giới, ông chủ thực sự là lục căn lục trần vậỵ

I)-NGUỒN GỐC TRƯ BÁT GIỚI :


Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Sóai trên thiên cung cũng vì tánh si mê Tửu Sắc và làm biếng nên bị đầu thai xuống trần gian:

-Tôi không phải heo rừng, cũng không phải Ông Chãng (heo rừng lâu năm quá, mọc nanh bó hàm, tục sợ như hùm, kêu tưng bằng Ông Chãng) tôi là Thiên Bồng nguyên soái ở sông Ngân (Thiên Hà) bởi say rượu đi lạc vào cung Nguyệt mà chọc Hằng Nga, bị ông Linh Quan bắt giải về Thượng Ðế, Thượng Ðế bắt tội đánh tôi hai ngàn dùi, rồi đày xuống Trung Giai. Tôi đi đầu thai lạc đường nhằm heo rừng nái, mới ra thân thể như vậy. Tôi tức giận cắn heo nái chết tươi, và giết bầy heo rừng tuyệt tộc. Chiếm cứ hòn núi nầy, ăn thịt người đở đói, không dè nay gặp Phật Bồ Tát, xin cứu độ làm ơn .
(TDK hồi 8)

Hãy nghe chính Bát Giới nói về mình :

"Bát Giới ngay mỏ nói lớn rằng:
- Lão Trư hơn bảy đời tham vui làm biếng, bị theo thế sự mà mê tâm, sau gặp thần tiên khuyên dỗ, mới ăn năn chừa lối tu hành, rốt lại thượng đế ban phong làm chức Thiên Bồng Nguyên Soái cư trị tại Thiên Hà, tiêu diêu khoái lạc. Ngày kia ăn hội bàn đào, uống rượu say quá, đi lạc vào cung Quảng Hàn, trêu hí Hằng Nga nên phải đọa, đầu thai nhằm heo rừng nái, mới sanh ra đầu thú mình người, ở núi Phước lăng làm nhiều điều thất đức. Sau nhờ Quan Âm khuyên bảo tu hành, theo bảo hộ Ðường Tăng thỉnh kinh cho tiêu tội, hiệu là Bát Giới, pháp danh Ngộ Năng ."
(Trích đọan Tây Du Ký)

II)-NGUỒN GỐC TÊN TRƯ BÁT GIỚI :


-Pháp danh của Bái Giới là Ngộ Năng nghĩa là Thấy và Vuợt qua được cái Bản Năng của mình và do chính Quan Âm đặt cho:
Quan Âm nói:
- Ta vâng sắc Phật Tổ, xuống cõi trần mà tìm kẻ thỉnh kinh. Nếu ngươi chịu làm đệ tử người thỉnh kinh, mà tới Tây Phương thì phước đủ trừ tội, ta cứu ngươi nạn khỏi tai qua .
Con tinh nói:
- Chịu theo, chịu theo"
Quan Âm thí phát (thế phát) xong rồi cứ theo dèo đặt họ, gọi là Trư, đặt tên thánh là Ngộ Năng, giữ theo phép Phật, phải ăn chay cử mặn và cử ngũ uẩn (năm món như đồ mặn là: Hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu và ngò) ở đợi thầy thỉnh kinh đi tới .
(TDK-Hồi 8)

Và bát giới là 8 món mà người tu Phật Giáo phải kiêng cử là “ngủ huân” (Hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu và ngò) và “tam yểm” (thịt trâu, bò và chim nhạn). Không phải là sự tình cờ mà Tam Tạng bàn đến sự kiêng cử trong sự ăn uống của Ngộ Năng vì biết tánh Bát Giới là người đam mê ăn uống nên phải đặt tên mà răn dạy..

Tam Tạng nói:
-… ngươi đã cử ngũ huân và tam yểm là tám món, vậy ta cho hiệu riêng là Bát Giới .
(TDK-19)

III)-NHỮNG TÁNH XẤU CỦA TRƯ BÁT GIỚI:

Nếu tính ra thì Bát Giới có rất ít tánh tốt còn tánh xấu thì đầy rẫy :

1)-Tham ăn :
Đây là môt trong bản tính nổi bật của Trư Bát Giới :

Hành Giả nói:
- Thiệt hay lắm, em đã biết trái nhơn sâm, khi trước ăn tại đâu mà rõ?
Sa Tăng nói:
- Tôi tuy chưa ăn nó, mà hồi làm Quyện Liêm đại tướng, thường thấy các tiên ngoài biển đem dâng cho Ngọc Hoàng, song chưa ăn đặng. Ðại ca cho tôi xin một chút, đặng nếm cho biết mùi!
Hành Giả nói:
- Không cần xin một chút làm chi, cứ ba anh em mỗi người một trái .
Bát Giới lấy một trái, nhấp vào cái rồi nuốt, lật đật không kịp nhai.
Liền hỏi rằng:
- Sư huynh sư đệ, hai người ăn nó ra làm sao?
Hành Giả nói:
- Ngươi ăn trước hết thảy, còn trở lại hỏi ai .
Bát Giới nói:
- Tôi ăn mau quá, chẳng biết có hột hay không? Tôi nhấp sơ rồi nuốt trọng. Anh ôi! Hễ làm ơn thì làm ơn cho trót. Kiếm thêm một trái nữa, tôi ăn thủng thẳng cho biết mùi .
Hành Giả nói:
- Bụng ngươi tham không cùng, biết bao nhiêu cho đủ? Mình cũng có phước lắm mới ăn đặng một trái nầy. Thôi thôi đã đủ rồi, đừng có đòi nữa .(TDK-25)


2)-Mê Tửu Sắc:
Đây là tánh nổi bật thứ hai của Bát Giới. Bát Giới không từ bỏ cơ hội nào để tán tỉnh đàn bà con gái hoặc tỏ ý muốn lấy vợ. Nhìn thấy đàn bà là Bát Giới như bị say, quên hết mục đích chính của mình, bất chấp lời đại nguyện đi thỉnh Kinh đã hứa với Quan Âm, với Tam Tạng.

"Hành Giả nói nhỏ với Sa Tăng rằng:
- Ngươi ngồi đây với thầy, ta theo coi nó đi đâu cho biết .
Nói rồi ra khỏi nhà khách, dùn mình biến ra con chuồn chuồn đỏ, bay theo Bát Giới coi chơi. Thấy Bát Giới dắt ngựa gặp cỏ không cho ăn, cứ dắt ra phía sau đứng đó. Xảy thấy người đàn bà dắt ba đứa con gái, đứng coi bông cúc nơi cửa sau.
Bát Giới dắt ngựa đi trờ tới, ba nàng kia bước trái vào trong.
Người đàn bà ấy hỏi rằng:
- Thầy đi đâu đó?
Bát Giới buông dây cương bước tới, bái và nói rằng:
- Thưa mẹ, tôi đi cho ngựa ăn .
Người đàn bà ấy nói:
- Thầy ngươi không biết tính, ở nhà ta thì sung sướng, chẳng hơn đi tới Tây Phương?
Bát Giới cười rằng:
- Mấy người ấy vâng lệnh vua Ðường đi thỉnh kinh, nên không dám ở đây. Song tôi còn ngại lắm. Sợ mẹ chê tôi mỏ dài tai lớn, không chịu gả con .
Người đàn bà ấy nói:
- Ta không chê đâu. Bởi vì nhà không có đàn ông, miễn đặng một người cầm lái. Song ngại vì ba đứa nhỏ, sợ tánh con gái hay chê .
Bát Giới thưa rằng:
- Xin mẹ nói dùm với mấy cổ: Ðừng chê mập chê ốm. Tuy thầy tôi tốt mã, song cũng chẳng đặng mà ham, chớ như tôi diện mạo xấu xa, mà có ích lắm.
Người đàn bà ấy hỏi rằng:
- Ngươi có tài chi, thì nói cho ta nghe thử .
Bát Giới ca rằng:
Tuy vấn sanh tướng xấu, Song cũng có tài năng
Ðào giếng chừng ba khắc. Câu mưa nội nửa ngày,
Giữ nhà hơn chó sủa: Cào đất quá trâu cày,
Trăm việc đều thông cả: Siêng năng ít ai tày.

Người đàn bà ấy nghe nói khen rằng:
- Giỏi như vậy thì xong lắm. Song ngươi về thưa lại với thầy. Nếu thầy ngươi bằng lòng thì ta bắt rễ .
Bát Giới nói:
- Thầy ấy không phải cha mẹ chi tôi, mà phải thưa đi thưa lại, ưng không là tại nơi tôi .
Người đàn bà ấy nói rằng:
- Như vậy thì xong lắm, để ta tính lại với con ta .
Nói rồi bước vào đóng cửa.
(TDK-23)


Mỗi khi nhìn thấy đàn bà con gái là Bát Giới bị mê hoặc đến cao độ nhiều khi không còn liêm sĩ, luân lý gì hết :

- Thưa mẹ, tính gả người thứ mấy cho tôi?
Người đàn bà ấy nói rằng:
- Chuyện ấy chưa nhất định, muốn gả con lớn thì sợ con giữa nó phiền, muốn gả con giữa thì sợ con út nó giận. Bằng gả con út, chắc hai đứa nó hờn, nên chưa định chắc .
Bát Giới nói:
- Thưa mẹ, nếu sợ phàn nàn xin gả cho tôi hết thảy, thì khỏi lo việc ghen tuông . Người đàn bà ấy nói rằng:
- Không lẽ ba đứa con, mà có một thằng rễ?
Bát Giới thưa rằng:
- Nói như mẹ thì người ta không có hai ba vợ hay sao? Rất đổi là vua Nghiêu còn gả hết hai con cho ông Thuấn. Tôi khéo ở lắm, chẳng hề bỏ phép công bình?
Người đàn bà ấy nói:
- Không đặng, ta đưa cái khăn vuông cho ngươi đội, chụp con nào thì con ấy phải ưng, ấy là lối bói thiên hôn đó .
Bát Giới nghe lời lấy khăn che mặt, rồi nói rằng:
- Xin mẹ kêu mấy cổ ra đây .
Người đàn bà ấy nói rằng:
- Chơn Chơn, Ái Ái, Liên Liên. Ra cho rể mới choàn thiên hôn mà kết duyên gá nghĩa .
Nói rồi nghe ba nàng đều dạ, đeo vàng ngọc khua rổn rảng, mùi xạ hương bay bát ngát. Lòng mừng khấp khởi, chụp trước rồi chụp sau. Chụp chẳng đặng người nào, té ngiêng rồi té ngửa! Rán sức đổ mồ hôi hột, té đập mặt u đầu! Chụp cột nầy rồi ôm cột kia, đụng vách nầy nhào vách nọ!
Mệt ngồi thở dốc và nói rằng:
- Mẹ ôi! Ba cô ấy qủy quyệt quá! Chụp không nhằm biết tính sao?
Người đàn bà ấy nói:
- Không phải nó qủy quyệt đâu, ấy là mắc nhượng cho nhau, nên không đứa nào chịu hết .
Bát Giới nói:
- Mấy cô không chịu, thì mẹ chịu cho rồi .
(TDK-23)

Lòng mê gái này Bát Giới bất chấp là người nữ là người phàm tục hay yêu tinh, thí dụ mặc dầu biết rõ 7 nàng gái đẹp này là yêu tinh nhền nhện Bát giới cũng không đè nén dược lòng tà dục của mình:

Bát Giới nín cười không đặng, liền nói pha lửng rằng:
- Lúc này nóng nực lắm! Xin các cô lấy lòng rộng rãi để bần tăng tắm với cho vui! .
Lũ nữ quái nổi giận mắng rằng:
- Hòa Thượng gì vô lễ vậy nà! Sao đòi tắm với con gái? .
Bát Giới nói trây rằng:
- Nực nội quá chừng không biết lễ nghĩa gì hết!

Nói rồi tuốt quần áo, nhảy đại xuống ao.
Bảy nàng ấy mắc cỡ nổi xung, đồng đánh Bát Giới.
Bát Giới tánh chịu nước hay lắm, liền hóa ra con cá leo, bảy nàng ấy chụp hoài mà bắt không đặng. Ví Ðông thì lội Tây, ví Nam thì lội Bắc, con cá ác nghiệt, cứ thông vào háng bảy nàng mà tung hòanh!
Bảy nàng ấy thất kinh, cứ ngồi xếp chè he dưới nước mà thở dốc. (TDK 72).

3)-Làm Biếng:
Thêm một bản chất nổi bật nữa của Bát Giới. Trong mọi việc Bát Giới luôn luôn thông minh tìm ra được kẻ hở hay lý do để làm biếng:

Nói về Bát Giới ra đi xăng xái, đặng bảy tám dặm đường day mặt lại chỉ Tam Tạng mà lầm bầm rằng:
- Lão thầy cả yếu xiệu, ai nói cũng nghe. Còn hòa thượng đen thui dưỡng thây cho mập. Bật Mã Ôn là con khỉ ốm, muốn ở không cho khỏe với nhau. Sai Lão Trư đi dọ đường, đặng thỉnh kinh cho thành chánh quả. Biết có yêu dữ không dám đi trước, lại biểu ta nạp mình! Ta lại dại gì mà đi tới động. Kiếm chỗ nhủ chơi cho mãn giấc, rồi về nói bướng cũng xong .
Nói rồi thấy dưới kẹt núi, có một đám cỏ hòe. Liền nằm ngay uốn mình một cái mà nói rằng:
-"Sướng biết dường nào! Dầu cho Bật Mã Ôn, cũng không được thảnh thơi nằm ngủ như vầy".

4)-Phá luật lệ:
Mặc dầu đã chấp nhận luật lệ với Quan Âm, trường chay mà đi thỉnh kinh nhưng khi có dịp để phá giới luật là Bát Giới không ngại gì mà không đặt lại thành vấn đề:

Trư Ngộ Năng bạch rằng:
- Tôi thọ phép Quan Âm bấy lâu cử Ngũ Huân Tam yểm chịu cực như vậy mà đợi thầy, nay đã gặp rồi, xin cho trở đũa .
Tam Tạng nói:
-Không nên! Lẽ nào gặp thầy lại thôi ăn chay…
(TDK-19)

5)-Khẩu Nghiệp:
a)-Thị phi:
Đây là một đặc tài của Bát Giới. Thường thì người ta chỉ dèm pha hay thị phi được nếu người trong cuộc ở xa mình và không biết rõ sự thực, còn đằng này Tam Tạng là người hằng ngày ở sát bên Bát Giới thế mà Bát Giới vẫn thi phi, dèm pha và Tam tạng vẫn nghe lời Bát Giới. Đó là nhờ Bát Giới biết xử dụng ngôn ngữ và chiến thuật đánh đúng vào chỗ yếu của Tam Tạng là lòng thương người.

Ngày kia trời tối, Tam Tạng nói với đồ đệ rằng:
- Mặt trời chen lặn, biết nhà nào ngủ đỡ một đêm?
Hành Giả thưa rằng:
- Người tu hành thì uống nước suối, ăn trái cây, ngủ ngoài sương, nằm dưới nguyệt, chỗ nào cũng là nhà hết thảy, hỏi thăm xóm làm chi?
Bát Giới nói:
- Anh đi không, thì thong thả hơn hết, chẳng hề thương kẻ nặng nề, cái gánh đồ nầy, có một Lão Trư ra sức. Anh theo làm học trò lớn, để tôi làm chức trưởng công, tôi biết tánh anh muốn làm tiên, chẳng hề gánh vật, còn ngựa của thầy mập quá, để cho tôi gởi gánh đồ . (TDK)

b)- Dèm pha:
Bát Giới có tài dèm xiểm ngay cả việc trước mắt để gieo sự nghi ngờ trong lòng Tam Tạng:

"Khi ấy Tam Tạng run lập cập nói rằng:
- Con khỉ nấy dữ quá, khi không dám đập chết người ta!
Tôn Hành giả thưa rằng:
- Xin thầy coi trong xách đựng chi, thì biết chơn giả .
Tam Tạng dở xách không thấy cơm, toàn những giòi bò lúc nhúc, giở bình bát không thấy bánh, chỉ những cóc nhảy lom xom, cũng có ý tin là yêu quái.
Bị Bát Giới gièm siễm rằng:
- Người đàn bà ở đồng, sao gọi là yêu quái! Chẳng qua đại ca giết lỡ, nên mà con mắt mà dối thầy, vì sợ có niệm thần chú .
Tam Tạng nghe lời gièm siễm, niệm chú tức thì.
Tôn Hành Giả la lớn rằng:
- Nhức đầu chết đi thầy ôi! Khoan niệm để tôi nói chuyện đã .
Tam Tạng giận rằng:
- Người tu hành thì giữ lòng từ thiện, sao ngươi vô cớ mà sát nhân. Ði thỉnh kinh làm chi, còn có chuyện gì nữa. Thôi ngươi đi về cho rảnh .
Tôn Hành Giả thưa rằng:
- Thầy đuổi tôi đi đâu bây giờ?
Tam Tạng nói:
- Ta chẳng nhìn ngươi là học trò, muốn đi đâu tự ý .

Không phải một lần mà nhiều lần Bát Giới chỉ nói vào một câu là Trắng hóa thành Đen và Tam tạng trừng trị TÔN NGộ KHÔNG ngay, cũng là nhờ Bát Giới biết khai thác điểm yếu của Tam tạng và gieo sự nghi ngờ trong lòng Tam tạng vậy:

Khi ấy Tôn Hành Giả đánh một thiết bảng, con yêu ấy chết ngay, xuất hồn không đặng.
Còn Tam Tạng xem thấy run rét hãi kinh.
Bát Giới cười ngất nói rằng:
- Bữa nay Hành Giả điên rồi, nửa ngày giết hết ba mạng!
Tam Tạng muốn niệm chú, Tôn Hành Giả thưa rằng:
- Xin thầy đừng niệm chú, giục ngựa đến mà coi! Một đống xương khô rủ tại đó . Tam Tạng xem thấy hãi kinh hỏi rằng:
- Ngộ Không! Người nầy mới chết, sao đã rủ xương?
Tôn Hành Giả nói:
- Nó là Thi ma, xương khô thành quỷ . Nay bị tôi đánh nó biến không kịp, đã hiện nguyên hình. Trên xương sống có bốn chữ Bạch Cốt Phu Nhân, nghĩa là con ma đàn bà bộ xương không mục .
Tam Tạng xem thấy mới tin.
Bị Bát Giới chót mỏ nói dua rằng:
- Thầy ôi! Rõ ràng Hành Giả đánh người lương thiện thác oan. Sợ niệm chú nhức đầu, nên biến hóa dối thầy cho xuôi việc .
Thiệt Tam Tạng hay nghe lắm, tin lời niệm chú tức thì. Thương hại Tôn Hành Giả nhức đầu quá, quì bên đường mà thưa rằng:
- Xin thầy đừng niệm nữa, muốn chi thì nói cho rồi .
(TDK)

c)-Nói Láo:
Bát Giới có tài bịa đặt câu chuyện một cách chi tiết khiến người nghe tuởng như thật:


Tam Tạng hỏi rằng:
- Có yêu quái hay không?
Bát Giới thưa rằng:
- Có yêu quái rất nhiều kể không hết .
Tam Tạng nói:
- Sao ngươi về đặng?
Bát Giới nói:
- Chúng nó kêu tôi bằng Trư Tổ, đứa thì kêu bằng ông ngoại. Dọn trôi nước đồ chay mà đãi tôi. Rồi gióng trống kéo cờ mà đưa tôi trở lại .
Tôn Hành Giả nói rằng:
- Có khi ngươi ngủ chiêm bao thấy như vậy, nên thuật chuyện lại phải chăng?.

d)-Nịnh bợ & Khích Bác :
Bây khỉ vâng lời mà đè xuống. Bát Giới lạy mãi mà năn nỉ rằng:
-"Xin anh vị tình thầy, dung thứ em một thuở".
Tôn Hành Giả nói:
-"Thầy ở nhân nghĩa lắm, không vị tình làm sao".
Bát Giới lạy nữa, thưa rằng:
-"Anh không vị tình thầy thì thôi, xin vị tình Quan Âm mà tha tội ngu đệ".
Tôn Hành Giả nghe nhắc tới Quan Âm, trong lòng cảm động, liền nói rằng:
-"Biết lỗi thì thôi, ta cũng không đánh. Song phải nói cho thiệt. Nay Ðường Tăng đến đâu mà mắc nạn, nên ngươi tới gạt ta?"
Bát Giới thưa rằng:
-"Thiệt tình thầy nhớ anh, chớ không mắc cạn chi hết".
Tôn Hành Gả nổi giận mắng rằng:
-"Ngươi muốn ta đánh một thiết bảng phải không, sao cứ gạt ta hoài vậy? Tuy ta về động Thủy liêm chớ lòng hằng lo việc sư phụ. Thầy mắc nạn nhiều chỗ không phải lần nầy. Phải cứ thiệt khai ngay, còn nói giấu thì đừng có trách số".
Bát Giới thưa rằng:
-"Thiệt tôi nói dối mà rước anh. Không dè anh thiệt tánh linh biết trước hết thảy. Xin tha tội, tôi xin thưa thiệt sự tình".
Tôn Hành Giả nói:
-"Chờ dậy mà nói chuyện nghe thử?"
Bầy khỉ buông tay ra, Bát Giới chờ dậy chạy dòm ngó lăn xăn. Tôn Hành Giả hỏi rằng:
-"Làm cái cái gì lạ vậy?"
Bát Giới nói
-"kiếm đường mà chạy cho mau".
Tôn Hành Giả nói:
-"Ta chấp ngươi chạy trước ba ngày, ta theo bắt lại lập tức. Chạy đâu cũng không khỏi, chuyện chi nói thiệt cho mau?"
Bát Giới túng phải thuật chuyện lại. Rồi nói rằng:
-"Bởi Tiểu long đốc tôi đi thỉnh anh nói anh là người quân tử biết nhân nghĩa chẳng hề nê cố việc cũ, sao chắc cũng cứu thầy. Vậy xin anh xét lại một ngày cũng đạo làm thầy, đi cứu cho toàn tánh mạng".
Tôn Hành Giả nổi giận nói rằng:
-"Khi ta giã từ có dặn như vầy: Nếu gặp yêu quái thì nói ta là học trò lớn của thầy, thì nó chẳng dám làm hại. Sao ngươi cãi lời ta?"
Bát Giới nghe nói nghĩ rằng: "Môi hỉnh chẳng bằng nói khích". Nghĩ rồi nói rằng:
-"Anh ôi! Phải đừng nói tên anh, hãy còn khá khá. Bởi vì nói tên anh nó mới làm dữ vô cùng!"
Tôn Hành Giả hỏi:
-"Ngươi nói làm sao đó?" Bát Giới đáp rằng:
-"Tôi nói: Yêu tinh đừng vô lễ mà làm hại thầy ta. Ta hãy còn một vị đại sư huynh là Tôn Hành Giả, thần thông quảng đại, năm xưa phá tới thiên cung. Nếu anh ta đến đây, thì bây chết cả lũ. Huỳnh Bào nổi giận nói lớn rằng: "Mi tưởng Tôn Hành Giả là tài lắm, dám chọc ta sao? Nếu nó đến đây thì ta lột da rút gân, ăn thịt và lấy xương mà làm thuốc. Chớ bộ nó ốm lắm, rán mỡ có bai nhiêu. Tại mi đem con khỉ mà nhát ta, nên ta làm cho khỉ ốm ra mặt. Vậy mới biết thấp cao".
Tôn Hành Giả nghe nói nổi giận, trợn mắt cào tai, nhảy xuống hét lớn rằng:
-"Sao dám mắng ta như vậy?"
Bát Giới thưa rằng:
-"Xin đại ca bớt nóng. Ấy là Huỳnh Bào nói, tôi học lại cho anh nghe".
Tôn Hành Giả nói rằng:
-"Thôi em chờ dậy. Ta phải đi đánh mới xong. Vì nó mắng ta nên giết nó báo cừu cho đã giận. Rồi trở về Thùy Liêm Ðộng chớ không theo bảo hộ Ðường Tăng".
Bát Giới nói:
-"Miễn anh giết nó mà báo cừu, còn sự ở đi mặc ý".
(TDK-31)


6)-Thù Dai:
Bát Giới bị Tôn Ngộ Không đánh đòn nhiều lần nên đâm oán , chỉ chờ cơ hội là trả thù. Bản chất của Bát Giới còn là con người thù dai, cất dấu những tư tưởng hận thù chỉ chờ dịp là bùng dậy:

Khi ấy Tam Tạng nói với Tôn Hành Giả rằng:
- Ngươi có phép cứu đặng một mạng, hơn lập bảy kiểng chùa, dầu thỉnh kinh công đức cũng không bằng cứu mạng .
Tôn Hành Giả nói:
- Thầy khéo nghe lời thằng điên nói bậy. Phàm con người chết 49 ngày trở lại, thì đã đi đầu thai, nay người chết đã ba năm, tôi cứu làm sao cho đặng!
Tam Tạng nghe nói hỡi ôi!
Bát Giới nổi giận nói rằng:
- Ấy là lời nói gạt thầy, sao lại cứu không đặng, thầy cứ niệm chú, chừng nào tử thi sống lại thì thôi .
Tam Tạng y lời, Tôn Hành Giả nhức đầu lòi con mắt.(TDK-38)

Khi Tôn Hành Giả nhức đầu chịu không nổi liền năn nỉ rằng:
- Thầy ôi! Xin đừng niệm nữa, để tôi chạy thuốc .
Tam Tạng hỏi:
- Ði kiếm ở đâu bây giờ?
Tôn Hành Giả thưa rằng:
- Trừ ra xuống Diên vương, mà lấy hồn vía .
Bát Giới nói:
- Thưa thầy, đừng nghe lời ấy, bởi sư huynh có nói trước với tôi rằng: Chẳng cần xuống Âm ti, ở trên dương gian cũng có thuốc .
Tam Tạng ngỡ thiệt, liền niệm chú, Tôn Hành Giả thưa rằng:
- Thầy đừng niệm nữa, để tôi kiếm thuốc trên dương gian .
Bát Giới thưa rằng:
- Xin thầy niệm hoài anh tôi phải phục .
Tôn Hành Giả nổi giận mắng rằng:
- Mi là súc vật, sao quyết hại ta .
Bát Giới cười ngất nói rằng:
- Tại anh hay khuấy tôi, nên tôi phải khuấy lại .
Tam Tạng hỏi:
- Dương gian có thuốc chi mà cứu đặng .
Tôn Hành Giả thưa rằng:
- Nay tôi đi tìm ông Thái Thượng xin một viên thuốc hườn hồn thì cứu vua Ô Kê mới sống .
Tam Tạng mừng rỡ hối đi.

7)-Trốn trách nhiệm, phản bạn:
Chỉ vì làm biếng Bát Giới đôi khi bất chấp tín nghĩa, lòng trung thành cùng huynh đệ, sẵn sàng đạp trên sức phấn đấu của huynh đệ mà hưởng thụ:

Bát Giới đã đuối tay, Sa Tăng cũng hết sức. (Bởi lúc nầy chư thần bảo hộ Tam Tạng tại đền vua Bửu Tượng, nên Sa Tăng, Bát Giới đánh không lại Huỳnh Bào).
Khi ấy Bát Giới nói gạt Sa Tăng rằng:
- Hiền đệ rán sức mà cự, ta đi ngoài rồi vào đánh tiếp tức thì .
Sa Tăng tin lời rán sức đánh cố mạng.
Chẳng ngờ Bát Giới chạy riết, kiếm chỗ mát mà nằm ngủ ly bì.
(TDK-29).

8)-Con người không ý chí, bỏ dở nửa chừng, trong đầu luôn luôn tính chuyện xuất tu hòan tục:
Đây là trở ngại chính của công cuộc đi thỉnh kinh, không phải từ bên ngoài thiên nhiên, rừng, sông, thú dữ, đói kém mà từ trong lòng phát ra mà Trư Bát Giới là đại diện, lúc nào cũng muốn bỏ cuộc, quay đầu về.

Bát Giới nói:
- Thôi ngươi lặn xuống sông mà về biển. Còn ta gánh đồ về xóm cao lào mà ở thì xong hơn .
Bạch mã nghe nói, cắn áo Bát Giới kéo lại khóc mà than rằng:
- Xin sư huynh đừng lanh nặng tìm nhẹ, bỏ bạn phụ thầy. Nỡ nào làm biếng ngặt không biết tính làm sao. Sa Tăng bị yêu bắt trói, ta đánh không lại nó, ngươi cự cũng bị thương. Lúc nầy phá hùm cho rồi, còn đợi chừng nào nữa?
Bạch mã khóc rằng:
- Anh đừng nói chuyện chia phôi, tôi đau lòng lắm. Nếu anh không cứu đặng sư phụ, xin đi cầu viện người ta!
(TDK)
Khi ấy Sa Tăng với Tam Tạng đương đứng ngó mông, thấy Bát Giới chạy về thở hào hển, Tam Tạng kinh hãi hỏi rằng:
- Bát Giới, sao ngươi về có một mình, còn Ngộ Không đâu vắng?
Bát Giới khóc rằng:
- Sư huynh bị yêu quái nuốt rồi!
Tam Tạng nghe nói kinh hồn, té nhào xuống đất.
Giây phút Tam Tạng tỉnh dậy, đấm ngực khóc rằng:
- Ðồ đệ ôi! Ngỡ là thuở nay ngươi có tài đánh yêu, không dè bây giờ bị yêu nuốt! Thảm khổ biết chừng nào?
Bát Giới không thèm khuyên giải, liền kêu Sa Tăng mà nói rằng:
- Sư đệ ôi! Hãy đưa đồ hành lý, ngươi với ta chia hai!
Sa Tăng hỏi:
- Sư huynh chia đồ ấy làm chi?
Bát Giới nói:
- Chia chát cho phân minh, đặng ở đâu về đó. Ngươi về sông Lưu sa, ăn thịt người như khi trước, còn Lão Trư về ông nhạc, bảo hộ ở nhà ta, và bán con ngựa, mua cho sư phụ một cái quan tài, chớ còn trông thỉnh kinh gì nữa?
Tam Tạng nghe nói động lòng, kêu trời rồi khóc lớn.(TDK-75)

9)-Xúi Dục người khác làm chuyện phi pháp:
Nói dèm, xúi dục, kích thích lòng tham của người khác thì Bát Giới quả là thiên tài, ngay đến Tôn Ngộ Không cũng còn rơi vào bẩy của Bát Giới :

Bát Giới nói:
- Anh biết nhơn sâm quả hay không?
Hành Giả nói:
- Tuy ta chưa thấy, mà nghe người nói: Nhơn sâm quả là Thảo huờn đơn, nếu ăn nó thì sống lâu lắm. Mà ở đâu có bây giờ?
Bát Giới nói:
- Hai đạo đồng dâng hai trái cho thầy. Thầy không biết là trái nhơn sâm; chẳng hề động tới. Hai thầy khốn nạn quá. Phải chi thầy không hưởng, thì nó hiến cho mình. Té ra hai đứa đem nhơn sâm vào phòng, nuốt ọt với nhau hết trọi! Chúng ta không đặng một miếng, cũng nên hái trộm mà ăn .
Hành Giả nói:
- Chuyện ấy dễ như chơi, để ta đi hái . (TDK)

10)-Nhẫn Tâm:
Mặc dầu là người tu đôi khi Bát Giới bộc lộ thú tánh của mình là chỉ biết hưởng thụ dửng dưng trước cái chết của người khác:

Nói rồi đứng dậy đi liền, Tam Tạng nghe nói kinh hồn, tay chơn bủn rũn! Cầm lòng không đậu, rơi lụy chứa chan, kêu lớn nói rằng:
- Hôn quân, hôn quân, đắm sắc cho sanh bịnh, nở nào giết con nít dư ngàn, tội nghiệp quá chừng, ta thương đứt ruột!
Bát Giới lại gần nói rằng:
- Sao thầy không khiêng thọ đường người ta về nhà mà khóc! Thôi, thầy đừng phiền não làm chi, họ giết dân họ, không động phạm tới thầy, hãy đi ngủ cho khỏe, hơi nào lo việc người dưng?
(TDK-78)

11)-Giấu diếm tiền bạc :
Tiền bạc thời nào cũng có người mê, ngay cả Bát Giới là người tu hành cũng giấu diếm tiền bạc:

Còn Tôn Hành Giả bay lên ngó xuống, thấy Bát Giới nằm ngửa, giơ bốn cẳng lên trời, còn mỏ hụp lên hụp xuống, nửa nổi nửa chìm, mệt thở è è, coi thấy tức cười lắm!
Tôn Hành Giả thấy Bát Giới ra thân ấy hết giận rồi thương, bèn nghỉ rằng:
- Bát Giới cũng là một người từng phó hội Long hoa, song giận một đều, hể có động thì nó đòi về xứ, lại hay nói đốt cho thầy niệm chú nhức đầu! Ngày trước ta có nghe Sa Tăng nói rằng: Nó có giấu đút đặng tiền riêng, không biết qủa thiệt hay chăng? Ðể ta dọa nó một cái mà tra mẹo thữ?
Nghĩ rồi liền bay bên tai Bát Giới kêu giọng éo éo rằng:
- Bớ Trư ngộ Năng, bớ Trư ngộ Năng.
Bát Giới hoảng hồn nói rằng:
- Xui quá! Bồ Tát đặt pháp danh là Ngộ Năng, từ theo Ðường Tăng đến nay, cứ kêu tên Bát Giới, ai ở đây sao lại biết pháp danh ta mà kêu?
Nghĩ rồi, nín không đặng liền nói rằng:
- Ai kêu ta đó ?
Tôn Hành Giả nói:
- Ta đây.
Bát Giới hỏi:
- Ta đây, là ai đó?
Tôn Hành Giả nói:
- Ta là quỉ vô thường chớ ai.
Bát Giới hoảng hồn hỏi rằng:
- Chẳng hay quan lớn đi đâu đó?
Tôn Hành Giả nói:
- Vua Diêm Vương sai ta đi bắt hồn ngươi.
Bát Giới nói:
- Quan lớn về tâu lại với vua Diêm Vương rằng Ngài có quen lớn với sư huynh tôi là Tôn Hành Giả xin ngài vị tình chế một ngày, để mai sẽ bắt.
Tôn Hành Giả đáp rằng:
- Ðừng có nói xàm, lời ngạn ngữ rằng:
- Diêm Vương đã định canh ba chết, nào ai dám để tới canh tư. Ngươi hãy đi theo ta cho mau, đừng đợi lấy giây vòng mà kéo.
Bát Giới nói:
- Sao quan lớn chẳng rộng lượng làm ơn, coi bộ mat tôi còn sống lâu đặng hay sao, bề nào cũng chết, xin nán lại một ngày, đợi con yêu bắt thầy tôi và sư đệ, sư huynh về đây, sẽ giủ sổ thâu hồn một lượt luôn thể, chớ bắt kẻ sau người trước cũng mất công .
Tôn Hành Giả nói:
- Thôi, cái giấy của ta đi bắt, cọng ba chục hồn, đều có kẻ sau người trước, ta đi bắt hai mươi chín hồn kia, chừng lối một ngày trở lại. Thôi, ngươi đưa tiền phí lộ cho ta đi .
Bát Giới nói:
- Tội nghiệp quá, tôi là người tu hành, có tiền đâu mà lo lót .
Tôn Hành Giả nói:
- Nếu không chịu tiền phí lộ, thì với ta bây giờ .
Bát Giới hoảng hồn nói rằng:
- Xin quan lớn đừng trói, tôi biết sợi dây của quan lớn tên là dây truy mạng, tròng vào cổ thì tắt hơi. Thôi tôi chịu có, song có chút đỉnh mà thôi, nhớ nhiều không có .
Tôn Hành Giả nói:
- Có bao nhiêu thì đưa hết cho mau .
Bát Giới nói:
- Tội nghiệp quá, ấy là tiền lương tôi góp nhóp mấy năm nay, tính bạc vụn chỉ có năm chỉ, kỳ trước tôi cậy thợ bạc nấu cốn lại một cục, nó không sợ tội phước, ăn bớt hết bốn phân, một cục cân còn bốn chỉ sáu, tôi thường giấu bên kẹt tai bên tả, tôi bị trói nên lấy ra không đặng, thôi quan lớn chịu khó mà lấy cho rồi .

Tôn Hành Giả nghe nói, liền mò trong lỗ tai Bát Giới, thiệt lấy đặng một miếng bạc cong cong như yên ngựa, nặng chừng bốn chỉ sáu mà thôi. Lấy bạc cất xong xả liền hiện nguyên hình vỗ tay cười ngất, Bát Giới nằm dưới nước, ngó thấy Tôn Hành Giả liền nổi giận rũa rằng:
- Bật mả ôn bị trời đánh còn ở bất nhơn, tôi khổ sở như vầy, nở lòng nào mà gạt lấy của .
(TDK-76).

IV)-NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA TRƯ BÁT GIỚI:

Nhưng không phải vì có nhiều tánh xấu mà Trư Bát Giới không có những tánh tốt. Thực ra Trư Bát Giới là người có bản chất tốt và phục thiện:

1)-Chấp nhận đi Thỉnh Kinh:
Điểm hướng thiện lớn nhất của Bát Giới là chấp nhận phò Tam tạng đi thỉnh kinh để chuộc lại lỗi mình:

Quan Âm nói:
- Người xưa rằng: Muốn có đường đi tới, thì đừng làm mất đường lui. Nếu mất đường đi tới, thì phải cùng đường. Khi ngươi ở cõi trên đà phạm phép, thì nay phải đọa mà không bỏ lòng hung, lại giết người hại vật, thì một tội sinh hai, ấy là muốn cùng đường đó .
Con tinh nói:
- Còn cùng chẳng còn cũng không cần. Nếu cử ăn thịt người thì thấy ngáp gió, hèn chi người ta nói: Y theo phép quan thì đánh chết, y theo phép Phật thì đói chết. Là phải lắm mà. Tính bề đi phức cho xong thê. Thà bắt chúng đi đường, ăn mỡ tươi béo lắm, cần gì 2 tội, 3 tội, ngàn tội, muôn tội nà .
Quan Âm nói:
- Lòng người muốn phải, trời cũng thuận theo. Như ngươi tu theo phép, ta cũng có món nuôi mình được, trái cây, rau, gạo, ăn cũng no lòng, lựa phải ăn mỡ người ta mới sống?
Con tinh nghe nói như tỉnh giấc chiêm bao, lạy Quan Âm mà nói rằng:
- Tôi muốn giải nghiệp mà đi tu, song mắc lấy tội trời, cầu sao cho khỏi?
Quan Âm nói:
- Ta vâng sắc Phật Tổ, xuống cõi trần mà tìm kẻ thỉnh kinh. Nếu ngươi chịu làm đệ tử người thỉnh kinh, mà tới Tây Phương thì phước đủ trừ tội, ta cứu ngươi nạn khỏi tai qua .
Con tinh nói:
- Chịu theo, chịu theo"

2-) Thông Minh, Có tài ăn nói, Biết khai thác yếu điểm của con người:
Qua các trích đoạn về tánh xấu của Trư Bát Giới, ta thấy rõ là Trư Bát Giới rất thông minh, có tài ăn nói, biết rõ mình cần phải nói gì để gieo sự nghi ngờ trong lòng Tam Tạng và cũng hiểu rõ yếu điểm của Tam Tạng và Tôn Ngộ Không hơn ai hết nên nếu Trư Bát Giới muốn khích bác, thi phi, dèm pha hay nịnh bợ …hầu như đều thành công hết . Tiếc thay Tài Năng và Sự Thông Minh này Trư Bát Giới chỉ dùng để phục vụ cho Bản Năng riêng của mình.

3-) Có Sức Khỏe Hơn Người:
Không những có Tài mà họ Trư còn có Sức khỏe hơn người, đôi khi có những việc mà ngay cả Tôn Ngộ Không cũng không làm được phải giao cho Trư Bát Giới:

Tôn Hành Giả nói:
-"Nếu vậy thì dùng ít giạ gạo trắng, nấu cơm phơi khô hoặc làm bánh bao cũng đặng. Ta sẽ bảo hòa thượng mỏ dài ăn no, rồi hóa làm con heo lớn, ủi đường này cho sạch mà đi".
Bát Giới nói:
-"Ðại ca tệ thời thôi, các cha muốn sạch sẽ cho sướng thân, sai tôi làm việc dơ dáy?" Tam Tạng nói:
-"Ngộ Năng, nếu ngươi có tài phép thì dọn cái đường nầy, ta đi tới Tây Phương, tính công ngươi thứ nhứt".
Bát Giới cười rằng:
-"Lão Trư biến ba mưới sáu cách, hóa làm lợn lớn lại khó gì? Song biến hình lớn chừng nào, thì bao tử lớn theo chừng nấy, phải ăn no mới đủ sức dọn đường; nếu đói chắc làm không nổi".
Các người ấy đồng nói rằng:
-"Chúng tôi quyết đem cơm khô và bánh in, bánh bao, vật thực theo ăn mà dọn đường, mỗi người mỗi gánh. Vậy thì chúng tôi đem ra hết cho thầy dùng; rồi sai người về nấu cơm gánh theo, phòng khi bổ khuyết".
Bát Giới nghe nói mừng rỡ, cởi y phục và nói rằng:
-"Xin ai nấy đừng cười, coi Lão Trư lập cái công thúi hoắc!"
Nói rồi dùn mình biến ra con heo lớn quá, mình dài một trăm trượng, ai nấy đều kinh! Tôn Hành Giả bảo đem cơm khô và đồ vật thực đổ đống, mời Bát Giới đỡ lòng. Bát Giới xốc một hồi mới hết, rồi ra sức ủi đường. Tam Tạng cởi ngựa theo sau, Tôn Hành Giả theo phò tả hữu, Sa Tăng gánh đồ hành lý theo sau. Tôn Hành Giả day lại nói rằng:
-"Thôi các ông trở về mà nghỉ, như tưởng tình thì sai người đem thêm cơm đặng sư đệ dùng thêm cho mạnh sức".
Mấy người cỡi ngựa chạy về trước hối nấu cơm, rồi bắt lừa chở theo mà không kịp, theo riết tới bữa sau mới thấy dạng, liền cả kêu rằng:
-"Các lão gia chậm chậm vậy, đợi chúng tôi dưng cơm".
Tam Tạng mừng rỡ tạ ơn, bảo Bát Giới nghỉ mà ăn cho thêm sức. Bát Giới ủi hai ngày đã đói, thời may gặp cơm nhiều, ăn một bữa no nê rồi ủi nữa. Thiệt là nhờ Bát Giới ủi tám trăm dặm đường Thất tuyệt trống trơn, quá khỏi truông mới hườn hình như cũ. (TDK – 67).

4-) Lạc quan, không Sân Giận:
Trái hẳn với TÔN NGộ KHÔNG, Trư Bát Giới gần như là không Giận bao giờ, cũng ít khi buồn, có buồn cũng chỉ chốc lát, rồi quên đi, tánh tình luôn nhìn gần và luôn luôn vui sống..

5-) Thương thầy, thương huynh đệ (Lòng Nhân)
Ẩn trong bản chất tham ăn, tham dục là lòng nhân thương thầy, thương huynh đệ và tâm hướng thiện:

Khi ấy anh em về thấy Sa Tăng còn khóc! Bát Giới mủi lòng ôm mã khóc kinh!
Tôn Hành Giả nói:
-"Chúa yêu đã lấp cửa trước, trong chất đá dẫy đầy, chắc có ngỏ sau thông thương, nên nó mới bít cửa trước. Vậy thì hai đứa bây ở đây, để ta đi thám thinh".
Bát Giới và khóc và dặn rằng:
-"Anh phải có ý tứ cho lắm, đừng lơ lĩnh mà nó ăn thịt nữa, báo hại chúng tôi khóc sư phụ, lại khóc sư huynh, khóc thét đui hai con mắt".
Tôn Hành Giả nạt rằng:
-"Ðừng có nói xàm".

(TDK – 86)

V)-CON ĐƯỜNG GIẢI NGHIỆP:

Bát Giới chấp nhận đi Thỉnh kinh vì biết đó là con đường duy nhất để giải nghiệp.
Đi thỉnh kinh là con đường Đạo để thoát ra khỏi cái vòng trầm luân của nhân quả, vì nếu tiếp tục sống trong vòng duyên nghiệp này ta sẽ lẫn quẩn trong vòng Sinh, Lão, Bệnh, Tử (Khổ Đế của Tứ Diệu Đế ). (Đừng quên Tây Du Ký là câu chuyên hoang đường để quảng bá Phật pháp). Sanh ra, lớn lên, lập gia đình, lo sự nghiệp, đẻ con rồi bệnh họan, rồi chết. Cứ vậy mãi… Cái vòng Luân Hồi ràng buộc đời sống với lề lối suy nghĩ trần tục: Tình, Tiền, Danh, Nghiệp , Tham, Sân, Si vv….. Muốn thóat khỏi cái vòng lẩn quẩn đó, phải có con đường giải thóat. Con đường giải thóat nằm trong Kinh Phật mà tượng trưng qua cuộc hành trình thỉnh kinh của thầy trò Tam Tạng. Tôn Ngộ Không muốn thóat khỏi cái nghiệp nặng trịch trong núi đá cần phải có cái Duyên của Quan Âm dẫn độ và phát đại nguyện đi thỉnh kinh. Thực ra Kinh kệ chỉ dành cho người trần tục, riêng đối với Trư Bát Giới thì cuộc hành trình thỉnh kinh thì đã là thực hành giải nghiệp rồi. Con đường thỉnh kinh cũng là con đường mà Trư Bát Giới đối diện với chính Bản Năng của mình và khắc phục được các Bản Năng đó.
Vì thế Quan Âm mới đặt pháp danh cho Trư Bát Giới là Ngộ Năng.

Khi đạt đạo rồi, không còn xác phàm nữa thì Con Nguời được giải phóng khỏi cái ăn cái uống, khỏi các nhu cầu khác của thân xác :


Mấy thầy trò gói kinh gánh theo Trần Trừng, nội xóm hay tin, đồng ra nghinh tiếp, kẻ thắp đèn thắp hương, người dọn bàn ghế, tốp thì đờn ca gióng trống như thỉnh sắc, giây phút rước tới cửa xóm, Trần Thanh và nội nhà ra nghinh tiếp vào nhà, ai nấy đồng lạy tạ ơn. Rồi dọn tiệc chay thiết đãi. Tam Tạng hết xác phàm nên không đói như khi trước, vì tình nhậm lễ chút đỉnh mà thôi. Tôn Hành Giả không ăn đồ nấu, dùng chút đỉnh trái cây. Sa Tăng cũng chấm chút! Bát Giới rán ăn một chén, rồi thì cầm đủa bái liền,
Tôn Hành Giả hỏi:
-"Sao thôi sớm như vậy?"
Bát Giới nói:
-"Không biết thể làm sao tì vị yếu quá, chắc là no hơi. Ðến xế Trần Thanh dọn tiệc, đãi bốn thầy trò xong xả. Chiều lại Trần Trừng dọn tiệc mời nữa, \
Bát Giới cười rằng:
-"Tôi vô phước quá chừng, lúc ăn đặng không thấy ai mời, nay no hơi lại nhiều đám thỉnh".
Nói rồi ngồi vào tiệc, ăn rán một hai miếng gọi là, khó làm thẳng nghỉnh như trước.
(TDK – 99)

V)-BÀI HỌC RÚT RA TỪ TRƯ BÁT GIỚI :

-Ngòai cuộc chiến đấu chống kẻ thù bên ngòai còn phải chiến đấu chống kẻ thù bên trong, đó là Nịnh bợ, Dèm xiểm, Tham ăn, Làm biếng, Mê tửu sắc, tính bỏ cuộc…luôn luôn ẩn tàng trong con người, mà ta không thể tiêu diệt nó được, chỉ có thể khắc phục, kiểm sóat và giáo dục nó để trở nên hướng thượng hơn lên.

-Bát Giới là bản năng trong con người chúng ta, luôn luôn kéo chúng ta đi theo chiều hướng chúng muốn. Nhiều người bỏ cả cuôc đời để chạy theo dục vọng hay những đòi hỏi của thân xác, để xây dựng và lệ thuộc vào 4 bức tường giam hảm cuộc đời mình (tứ đổ tường). Bát Giới mà không có TÔN NGộ KHÔNG hay Tam Tạng kềm chế thì chỉ biết buông thả theo dục vọng của mình. Muốn cho đời sống nhẹ nhàng, phải hướng thượng, nghĩa là chế ngự Bản Năng (Trư Bát Giới) và tăng cường phần Trí (TÔN NGộ KHÔNG) hay phần Tâm, Ý Chí (Tam Tạng).

-Bát Giới cũng tựng trưng cho Tham, Si (Tôn Ngộ Không thì Sân), và Khẩu Nghiệp của Phật Giáo.

-Trong đời sống thực tế gia đình và xã hội nhiều người chỉ sống theo Bản Ngã và Bản Năng của mình mà quên đi thức Hòa Đồng với người xung quanh. Sự kiện này đôi khi đưa đến sự tan vỡ gia đình hay công việc mà chính mình cũng không tự ý thức tới. Biết bao nhiều gia đình đổ vỡ, biết bao cuộc đời thân bại danh liệt cũng vì Tửu Sắc, Nhục Dục, Bài bạc, Khẩu nghiệp……tức là sống thỏa theo bản năng, không tự kềm chế mình ….Bài học Bát Giới còn đó từ Nguyên Bồng nguyên soái trên thiên cung bị đọa trần vào lớp nửa người nửa heo cũng vì cái bản năng này.

-Trong cuộc sống đầy máy móc, thiên về vật chất và nhiều căng thẳng (Stress) như hiện nay, đôi khi có được những đặc tánh như Trư Bát Giới cũng là điều tốt. Ăn được, Ngủ được Sức Khỏe tốt quả là điều cần thiết cho chúng ta. Không lo lắng, không muộn phiền. Sống vô tư, biết quẳng gánh lo đi và vui sống, luôn luôn tìm đuợc trong bất cứ nghịch cảnh nào cũng có đôi phút nghỉ ngơi, an nhàn. Dĩ nhiên không được để cho Bản Năng chỉ huy đời mình.

VI) CẢM ĐỀ TRƯ BÁT GIỚI :

Giam hãm cuộc đời trong bản năng
Thiên Bồng hóa kiếp thành Ngộ Năng
Con đường giải nghiệp bào mòn tánh
Dục vọng xuân thời một ánh băng .


Xuân Đinh Hợi
2007
đồ khỉ gió



Cùng một thể loại, xin bấm vào đây để xem thêm :

Phiếm Luận về Tôn Ngộ Không


FBấm Đọc Tiếp !

@Đã Có 0 Lời Bàn - Bấm Để Vào Phần Thảo Luận


_______________________________________________________________________

Phiếm Luận Về Mắt Biếc

Nhân câu hỏi Mắt biếc màu gì trong phần Lời bàn của bài nhạc Mắt Biếc do bác VĐ post, ĐKG xin có bài bàn phiếm về Mắt Biếc.

a)-Màu Xanh:
Người Việt thường dùng màu xanh để diễn tả cái nghĩa bóng của tuổi trẻ, của hy vong, của thơ ngây tươi đẹp..mặc dù trong thực tế chỉ là màu đen.…vì thế trong thơ văn thường thấy những chữ như: xuân xanh, đầu xanh, tuổi xanh, tóc xanh.:


-Đầu xanh đã tội tình gì ?
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôị
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.
(Kiều)
-Hai mươi bốn năm xưa,
một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
hai mái đầu xanh kề nhau than thở;
(Tình Già-Phan Khôi)
-Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
(Nguyễn Bính)

Ngay cả con trâu non đầy sinh-lực cũng được dùng màu xanh để diễn tả:
-Ngày trở về..có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ… (P.Duy)

Không ai dùng màu xanh để diễn tả cái Già, Cằn cỗi, Tuyệt vọng....(Xin bấm để đọc tiếp).

b)-Màu Biếc:
Biến thể màu xanh có rất nhiều màu khác nhau như: xanh lá cây, xanh non, xanh da trời, xanh nước biển…Màu Biếc hay Bích là một màu xanh biến thể (như màu ngọc bích là màu xanh lá cây ánh xanh lam nhạt, bão hòa màu (*)). Trong Lịch Triều Nhà Trần tạp kỷ năm 1395, quy định mũ áo của các quan văn, võ.như sau: Nhất phẩm thì màu tía, nhị phẩm màu đại hồng, tam phẩm màu đào hồng, tứ phẩm, ngũ phẩm: màu lục, thất phẩm:
màu biếc, bát, cửu phẩm: màu xanh. Người không có phẩm hàm và nô bộc: màu trắng. Người hầu trong cung thì mặc váy mở, không dùng xiêm.
Xem vậy màu biếc là một màu riêng biệt.

Vài thí dụ văn thơ sau đây về màu Biếc:

-Lầu Ngưng bích: Tên cái lầu mà Tú Bà dành cho Kiều ở, nghĩa là đọng lại màu biếc.

-Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
(Chinh Phụ Ngâm)
-Túc điểu phiên thanh lộ,
Hàn ngư dược bích khê
,
Chim xao xác dưới sương trong,
Vẫy vùng cá lội biếc dòng suối sâu.

-Tà nhật ngâm tàn hồng đạm đạm,
Mộ thiên vọng đoạn bích du du.

Nắng xế, thơ tàn, hồng nhạt nhạt,
Trời chiều, cảnh vắng, biếc bao la.
(thơ Chu Văn An-Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch)
-Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào. (Thu Vịnh)
-Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. (Thu Điếu)
(Nguyễn Khuyến)
-Mấy chùm hoa trắng mong manh,
Qua tàn lá biếc, trời thanh chập chờn.
(Thủy Mạc - Đinh Hùng)
-Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non.
(Huy Cận)

c)-Mắt Biếc:
Vậy thì Mắt Biếc là đôi mắt có màu xanh biếc, thực tế người VN ít có đôi mắt xanh hay nâu, đa số là mắt đen nhưng trong văn thơ vẫn dùng màu biếc để chỉ đôi mắt nghĩa là dùng vào nghĩa bóng để diễn tả tâm hồn thơ ngây, trong trắng, hy vọng và tươi đẹp của tuổi trẻ.


-Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
(Tuệ Sỹ)
-Anh van em chớ sầu trong mắt biếc,
Cho hồn ai thôi nhớ chút ly hương.
(Đinh Hùng)
-Mắt biếc năm xưa nay đâu ?..
Cánh sao còn đây,
tóc mây nào bay?…

(Mắt Biếc-Ngô Thụy Miên)
Chỉ là tiếc nuối quá khứ đẹp nào đã mất.

-Những mắt biếc cỏ non xanh cây trái địa đàng ...(TCS)

-Sớm mai vừa thức ôi nhiều nhớ thương
Nắng ôm choàng gối đôi bờ vai êm
Tiếng ai còn âm âm, tóc ai còn thơm thơm,
mắt ai còn xanh thắm trong tâm hồn .

(Mắt Biếc-Cung Tiến)

Và cũng không có gì là ngạc nhiên hết nếu có ai diễn tả đôi mắt bạn là đôi mắt biếc, mặc dầu thực tế mắt bạn lánh đen, đeo kiếng cận nặng, chỉ có nghĩa là khen bạn trẻ, tâm hồn bạn thơ ngây, trong trắng, đầy hy vọng trong cuộc sống mà thôi. Bạn nên mừng hơn là bực mình !. Cũng trong ý đó, đôi khi mắt bạn rất xanh nhưng không phải là mắt biếc và đôi khi mắt bạn rất đen, trắng hay xám nhưng lại là mắt biếc. Dĩ nhiên mắt này chỉ dành cho nữ giới, còn nam giới thì ĐKG không biết gọi là mắt gì!. Nếu có quý vị nữ nào viết một bài phiếm luận về đôi mắt đàn ông thì ĐKG xin hoan nghênh 2 tay, 2 chân và cả đôi mắt Khỉ của mình nữa.
đkg.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(*) Màu xanh lam là một trong ba màu gốc bổ sung. Ánh sáng màu xanh lam có bước sóng ngắn nhất trong ba loại màu gốc bổ sung này (khoảng 420 đến 490 nm). Bầu trời trong những ngày nắng đẹp có màu xanh lam do tán xạ Rayleigh của ánh sáng từ Mặt Trời. Một lượng lớn của nước thường (H2O) được cảm nhận là có màu xanh lam vì ánh sáng đỏ (bước sóng khoảng 750 nm) bị hấp thụ do tần số điều hòa bội của dao động co duỗi của liên kết O-H. Nước nặng (D2O) là không màu do dải tần số bị hấp thụ (~950 nm) là nằm ngoài quang phổ.


FBấm Đọc Tiếp !

@Đã Có 0 Lời Bàn - Bấm Để Vào Phần Thảo Luận


_______________________________________________________________________

Phiếm Luân Về Lời Ca Trịnh Công Sơn - Phần Một



PHẦN MỘT : Trịnh Công Sơn, HỌA SĨ CỦA THI CA


Nghe nhạc Trịnh Công Sơn là đi vào thế giới của ông, một thế giới đặc thù riêng tư, thơ mông, giản dị nhưng phức tạp; thực tế nhưng trừu tượng. Điều lạ lung là mọi người đều tìm thấy tâm tư mình trong đó. Có một điểm chung nào đó giữa Trịnh Công Sơn và người thưởng ngọan khiến mọi người đều yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn ?. Dĩ nhiên không phải tất cả mọi người đều thích nhạc Trịnh Công Sơn, chỉ ở tầng lớp nào đó như sinh viên hay lứa tuổi thanh niên vào những năm trước 1975. Ông nổi tiếng đặc biệt do lời ca. Lời ca của ông xuất phát một cách giản dị, tự nhiên, dễ dàng và tiếng Việt dưới ngọn bút của ông như được mặc vào bộ áo quần mới, vì ngay cả những chữ rất cũ cũng có ý mới.


A)-HÌNH THỨC DIỄN TẢ:

1)-So sánh:
So sánh là hình thức thông dụng trong văn thơ, các tác giả thường mượn hình thức này để nói lên tâm trạng của mình.
Thí dụ câu thơ sau đây của Tản Đà :
vèo trông lá rụng đầy sân
công danh phú quý có ngần ấy thôi
Tản Đà nhìn lá thu rụng rồi ví von lá rụng như là công danh phú quý trên đời sống này, tức là đi từ cái cụ thể, cái thực tế qua cái trừu tượng.

Trong lời ca TCS thì đầy rẫy những so sánh như thế:

Tình như lá bỗng vàng bỗng xanh
(Tạ ơn)

Đời ta có khi tựa lá cỏ, ngồi ca hát rất tự do
(Đêm Thấy ta là thác đổ)

Lá khô vì đợi chờ.
Cũng như đời người mãi âm u
(Như Cánh Vạc Bay)

Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
(Như cánh Vạc bay)

Từng câu nói từng cánh buồm giong cuối trời.
(Cỏ Xót Xa Đưa)

Có người lòng như khăn mới thêu.
Có người lòng như nắng qua đèo
Tóc người như dòng sông xưa ấy đã phai,
(Có 1 dòng sông đã qua đời)

Đại bác nghe quen như câu dạo buồn
(Đại Bác Ru Đêm)

2)-Nhân cách hóa:
Một đặc tính khác bàng bạc trong lời ca TCS là tính Nhân cách hóa nghĩa là các đối tượng có cá tính của con người, biết hát, biết nói, biết buồn, biết thương nhớ …. Điều này khiến ta nghĩ ngay rằng vì TCS là một họa sĩ nên ông đã áp dụng nhiều các kỹ thuật của tranh lập thể, siêu thực, trừu tượng mà chúng ta thường thấy trong những bức tranh, chim biết nói, hoa biết cười…

Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn
(Ở Trọ)
Tóc em cười trong gió...
(Yêu dấu tan theo)

Suối đón từng bàn chân em qua.
hát từ bàn tay thơm tho.
Gió’ sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
(Như Cánh Vạc Bay)

Những giọt mưa, Những nụ hoa
Hẹn hò gặp nhau trước sân nhà
(Bốn Mùa Thay Lá)

Ngày mai em đi,
đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ,
sỏi đá trông em từng giờ...
(Biển nhớ).

3)-Pha trôn giữa Cụ Thể và Trừu Tượng, Thực Tế và Tưởng Tượng:
Trong lời ca TCS thực tế và hư ảo thường đi đôi, không có biên giới rõ rệt khiến người nghe phải xử dụng nhiều tưởng tượng để đi vào thế giới của ông. Ông không xử dụng tất cả đều là trừu tượng hay tất cả đề là thực tế mà pha trộn lẫn nhau một cách hài hòa và bất ngờ.

- Lùa nắng cho buồn vào tóc em
(Nắng Thủy Tinh).

-Có sợi tóc nào bay trong trí nhớ nhỏ nhoi
(Ru Ta ngậm Ngùi)

-Làm sao em biết bia đá không đau
(Diễm Xưa)

Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay
Gọi thân hao gầy
Gọi buồn ngất ngây
(Gọi Tên Bốn Mùa)

Ngón tay em dài nên mãi ru thêm ngàn năm
(Ru mãi ngàn năm)

Người phu quét lá bên đường
quét cả nắng hồng quét hạ buồn tênh...
Người phu quét lá dưới nguồn
quét cả gió nồm quét cả mùa đông
(Góp lá mùa xuân)



4)-Kỹ thuật hội họa:
Trong các bức tranh lập thể, siêu thực hay trừu tượng, ta thường thấy chẳng hạn có tiếng chim hót trong đầu một người nữ hay là tóc dài bỗng trở nên dòng suối, bàn tay bao la rộng rãi của rừng hoang ….Đó là những nét mà các họa sĩ thường đưa vào đối tượng những sự tưởng tượng phong phú của mình để gây sự chú tâm đặc biệt. Hoặc ngay cả trong các bức hí họa, các họa sĩ thường phóng đại các bộ phận trong người để nhấn mạnh vào một đặc tính nào đó. Trong lời ca TCS ta thấy không thiếu những kỹ thuật này.

Một bờ môi thơm, một hồn giấy mới

nếu không là họa sĩ thì không nghĩ đến hồn giấy mới này.

Mặt đất bao la, anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam
(Nối Vòng Tay lớn)

Và ngay cả việc phối cảnh cho một bức tranh, TCS thường chỉ phác những nét chính đặc biệt nổI bật khiến người nghe thấy được và cảm nhận những gì ông muốn diễn tả. Cái hay là ông luôn dành chỗ cho trí tưởng tượng của người nghe. Thí dụ vài bức tranh sau đây cho thấy ông ngoài tài làm thơ còn là một họa sĩ có tài

Cảnh người phu quét đường nghe tiếng đại bác quen thuộc mỗi đêm:
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.
Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng
đại bác đêm đêm như kinh không mang lời nguyện
Trẻ thơ quên sống từng đêm nghe ngóng
(Đại Bác Ru Đêm)

Cảnh Hà Nội Mùa Thu
Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ,
nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu.
(Nhớ Mùa thu Hà Nội)

Hoặc trên đồi
Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy,
Bên khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con
(Hát Trên Những Xác Người)

Hoặc trong quán
Có chén rượu chờ trong quán đêm đêm.
Có những bạn bè xanh như người bệnh.
Có tiếng cười và tiếng khóc mênh mông.
Tôi như mọi người mong ngày sẽ tới.
Nhưng khi về lại thu mình góc tối.
Trong tôi rụng đầy bao nhiêu nụ cười.
(Bay Đi Thầm Lăng).

Hoặc vườn hoang
Ngậm ngùi bước về , làn rơm theo gió
Lạnh lùng bốn bề , chiều phơi sắc máu
Mộ nào giữa vườn, cỏ tranh cao lấp
Một con bướm dại, vỗ cánh hững hờ
(Bước Ngậm Ngùi Về)

Bắt được những ý mỏng manh, mơ hồ nhưng đặc thù để diễn tả ý mình không phải là điều ai cũng làm được nhưng đối với TCS thì thật là dễ dàng:

Tiếng thì thầm từng đêm nhớ lại
Ngỡ chỉ là cơn say
Ðóa hoa vàng mỏng manh cuối trời
Như một lời chia tay.
(Như Một Lời Chia Tay)

Hòn đá lăn trên đồi
hòn đá rớt xuống cành mai
rụng cánh hoa mai vàng
chim chóc hót tiếng qua đời
(Ngẫu Nhiên)

Một trong những điều quan trọng của Hội Họa là Màu Sắc. Màu sắc trong lời ca TCS thì thật là phong phú.

Vài thí dụ:

-Màu Xanh:
trời làm cơn mưa xanh dưới những hàng me
(Tuổi Đời Mênh Mông)
Mười năm xưa đứng bên bờ dậu.
Ðường xanh hoa muối bay rì rào.
(Có một Dòng Sông Đã Qua Đời)
Trời xanh trong mắt em sâu
Mây xuống vây quanh giọt sầu
(Còn Tuổi Nào Cho Em)
Những mắt biếc cỏ non
Xanh cây trái địa đàng
(Những Con Mắt trần Gian)

Mùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều
(Dấu Chân Địa Đàng)
Trên bước chân em âm thầm lá đổ
Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa
(Diễm Xưa)

-Màu trắng : Hạ trắng
áo trắng lung linh lộng gió trời cao,
ngẩn ngơ đàn bướm quay lui vườn đào
(Bến Sông)
gọi bờ cát trắng đêm khuya
(Biển Nhớ)
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
(Cát Bụi)

-Màu vàng:
Trong vườn mưa tạnh, tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội một đóa hoa quỳnh
(Đóa Hoa Vô Thường)
Có mặt đường vàng hoa như gấm
Có không gian màu áo bay lên
(Em Còn Nhớ Hay em Đã qu ên)
Trên cánh sen vàng ai biết được
Ngàn năm giọt nước có buồn không?
(Giọt nước Cành Sen)
Em qua công viên mắt em ngây tròn
Lung linh nắng thủy tinh vàng
(Náng Thủy Tinh)
Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi.
(Nhớ Mùa Thu Hà Nội)

-Màu Tím:
Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím
(Chiều một mình qua phố)
Đầu sân hoa tím sầu đông
Bèo mang hoa tím về sông
(Đóa Hoa Vô Thường)
chiều tím loang vỉa hè
(Nhìn những Mùa Thu Đi)

-Màu Hồng : mưa hồng
Miệng môi hồng đỏ như lá hoa vông
(Ra Đồng Giữa Ngọ )
Nắng có hồng bằng đôi môi em
(Như Cánh Vạc Bay)
Đời vẽ tôi tên mục đồng,
Rồi vẽ thêm con ngựa hồng,
Từ đó
lên đường
phiêu linh ... (Chỉ có ta trong một Đời)
Mây qua mây qua môi em hồng nhạt
Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa
Mây qua mây qua môi em hồng vừa
(Chìm Dưới Cơn Mưa)

-Màu Linh Tinh:
Trong từng giọng nói có màu tàn phai
(Như Tiếng Thở Dài)
Tìm trong lá úa màu
(Còn Mãi Tìm Nhau)
Màu nắng hay là màu mắt em
Cỏ cây chợt lên màu nắng
(Nắng thủy Tinh)
Ngày ta yêu em màu lá thanh xuân
(Người Về Bỗng Nhớ)
Lời ru đã đen vành môi
(Lời Ru Đêm)

5)-Xử Dụng Những Chữ Hán Việt, Tôn Giáo, Chính Trị, Triết học ….hay cả những chữ … bình dân
Trong lời ca TCS nhiều chữ Hán Việt hay các chữ thuộc về Tôn Giáo, Chính Trị, Triết Học ….vv…được xử dụng một cách rất tự nhiên, không cầu kỳ, không gượng ép để mang đến một ý mới cho ngôn ngữ (Thí dụ các chữ Vô Thường, Hư không, Hư Vô là các chữ được dùng nhiều nhất, Xem phần Phật Giáo).

Bỏ mặc mưa về, bỏ chiều phai
Bỏ mặc hư vô, bỏ ngậm ngùi
(Em đi Bỏ Lại Con Đường)

Đêm xưa ra phố với người
Giờ đây xuống phố với ngày vô vi
(Lời ở Phố Về)

Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận chưa từng tuyệt vọng đâu em
Tìm trong vô thường có đôi dòng kinh, sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn
(Đóa Hoa Vô Thường)

Con mắt còn lại nhìn đời là không
Nhìn em hư vô nhìn em bóng nắng
Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm.
(Con Mắt Còn Lại)

Tìm nhau trong hạnh phúc vô thường
(Còn Mãi Tìm Nhau)

Trong cuộc bể dâu
Ôi trăm ngày phố xá
cũng trôi theo
Trong hội trần gian
Bao nhiêu ngày yêu dấu
Cũng không còn
(Còn Có Bao Ngày)

Trời đất kia có hay ta về
Một phố hồng một phố hư không

Ngày thu đông phố xưa nằm bệnh
Đàn chim non réo bên vườn hoang
(Có Nghe Đời nghiêng)

Tôi xin em năm ngón tay thiên thần
Trong vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗi
Tôi tôi xin năm ngón tay em đi vào cô đơn.
(Lời Buồn thánh)

Điều mới mẻ là ông xử dụng cả điển tích như Dã Tràng hay Thúy Kiều:
Môi xinh ở trọ người xinh
Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều
(Ở Trọ)

Không phải lúc nào TCS cũng dung những chữ bác học mà ông xử dụng luôn những chữ rất thông thường gần như bình dân nhưng qua nét bút của ông bỗng trở nên thơ mộng:


Miệng môi kia ốm o lời thề
(Có Nghe Đời Nghiêng)

ba trăm năm trước tôi là ai?
Là ai, là ai, vu vơ đất bồi,
em ngồi ngọn sóng mang thai
(Tôi Là Ai)

Đêm nghe gió thở dài
Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai
(Nghe Tiếng Muôn Trùng)

Vì gió đêm nay hát lời tù tội quanh đời
(Này em có nhớ)

Chờ cây non trên núi đầu thai

(Như Tiếng thở dài)


6)-Một Chút, Một Thoáng:
Như một nhà bếp nghề nghiệp khi chế các món ăn thường bỏ thêm một chút chất liệu gì riêng, một chút thôi, không nhiều lắm để tạo thành hương vị đặc biệt của món của mình; như người họa sĩ tài ba khi pha màu thường thêm thắc một chút màu này cộng một chút màu kia để tạo nên cái sắc đặc biệt, TCS cũng vậy trong các bối cảnh của các bức họa riêng, ông cũng thêm một chút hương hoa nào đó, một chút màu sắc nào đó….không nhiều, một chút thôi.

chút tình thoảng như gió vội...
(Như một lời chia tay)
chút nắng trong tiếng gà trưa...
(Em còn nhớ hay em đã quên)
Gặp nhau không nói không nụ cười
Chút tình dường như hiu hắt bay
(Có một Dòng So6ng Đã Qua Đời)
tôi xin làm chút gió, mát thêm những bờ vai...
(Vì tôi cần thấy em yêu đời)
tóc nào hãy còn xanh, cho ta chút hồn nhiên...
(Ru ta ngậm ngùi),
chút lệ nhòa trong phút hôn nhau
(Bay đi thầm lặng)

Quỳnh hương một đóa thoáng hương thầm vườn đêm xao xuyến
(Chuyện Đóa Quỳnh Hương)
Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai
(Còn tuổi nào cho em)
Trả lại thoáng hương thơm
(Đời Gọi Em Biết Bao lần)
một thoáng hương bay bên trời phố hạ
(Hoà Vàng mấy Độ)
thoáng gập ghềnh trên con đường mòn
(Như Một vết thương)
Em ra đi như thoáng gió thầm
(Tạ Ơn)
Thoáng trong lòng một nỗi buồn qua

(Về Thăm Mái Trường Xưa)

7)-Hình thức Thơ:
Lời nhạc của ông ngòai việc là ý thơ rất phong phú còn được ông tạo nó với hình thức là những bài thơ hoặc kết hợp nhiều lọai thơ với nhau trong một bản nhạc nên tự nó đã có nhạc điệu rồi.
Vài thí dụ:

a-Kết hợp thơ 3 chữ và 4 chữ: Mưa Hồng, Vàng Phai trước ngõ
Trời ươm nắng
Cho Mây Hồng
Mây qua mau ….
(Mưa Hồng)

b-Thơ 4 chữ:
Mẹ ngồi ru con, Hà Nội Mùa Thu, Một ngày mùa Đông, Thưở Bống là người, tiến thóai lưỡng nan, Tuổi Đá buồn
Trời còn làm mưa
Mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn
Em mang em mang
Đi về giáo đường
Ngày chủ nhật buồn
(Tuổi Đá Buồn)

c-Kết hợp 4 và 5 chữ: Tình Sầu

d-Thơ Năm Chữa: Nhìn những Mùa thu Đi, Thương một người, Một ngày như Mọi Ngày, Như Chim Ưu Phiền, Những Con Mắt Trần gian, Tình Nhớ

e-Thơ Bảy chữ: Đỏan khúc thu Hà Nội, Níu tay nghìn trùng

f-Thơ bảy chữ và lục bát : Hai Mươi mùa nắng lạ

g-Thơ tám chữ: Im Lặng Thở Dài, Người già em bé, Vươn Xưa

h-Thơ tám chữ: Cũng sẽ chìm trôi, Tôi Đang Lắng Nghe
Nhật nguyệt trên cao ta ngồi dưới thấp
Một giòng trong veo sao lòng còn đục
Bầy vạc bay qua kêu mòn tịch lặng
Đường đời không xa sao ngồi gối chân . ..
(Cũng Sẽ Chìm trôi)

i-thơ Lục bát: Lời ở phố Ta về, Ở Trọ, Thiên Sứ bâng khuâng

j-Thơ mười chữ: Phúc âm buồn

k-Thơ Tự Do: Rơi Lệ Ru người, Tôi là ai


B)-CHẤT LIỆU:
Để tạo ra bức tranh nghệ thuật, TCS đã xử dụng các chất liệu sau đây, và những chất liệu này cũng là dấu ấn trong mọi tác phẩm của ông:

1)-Thiên nhiên: cây, cỏ, lá hoa, mặt trời, nắng, gió, mưa, bão, sông, biển, trăng, rừng, sỏi đá, núi non, suối, khói, sương, đỉnh cao, vực sâu… được xử dụng rất phong phú trong lời ca TCS. Thiên nhiên đốI với ông là bạn hữu, có sự đối thoại giữa ông và thiên nhiên, qua đó ta thấy tính nhân cách hoá của thiên nhiên được ông đặc biệt nhấn mạnh như việc ông "chuyện trò với lá cây" , "hôn một nụ hồng, hỏi thăm về giọt nắng" hoặc "đi trong sương mù, gọi cây lá vào mùa".

Vài thí dụ về chất liệu thiên nhiên trong lời ca của TCS:

-Dòng sông: là hình ảnh của thời gian qua, của cuộc đời, của người tình:
Rồi dòng sông . . . cũng miên man
Đưa người . . . về mộ phần
(Lời Của Dòng Sông)
Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
(Tình Xa)
Một dòng sông nước cuốn một cuộc tình không may
(T`inh Sầu)

-Biển:
Tình yêu như biển,
Biển rộng hai vai.
Tình yêu như biển,
Biển hẹp tay người lạc lối.
(Lặng lẽ nơi này)
Ngày mai em đi
biển nhớ tên em gọi về
gọi hồn liễu rũ lê thê
gọi bờ cát trắng đêm khuya
(Bien Nhớ)

-Hoa: là cái đẹp, là tuổi thanh xuân, là giấc mơ
Đầu sân hoa tím sầu đông
Bèo mang hoa tím về song
(Góp lá Mùa Xuân)
Em đến bên đời hoa vàng một đóa
một thoáng hương bay bên trời phố hạ
(Hoa Vàng Mấy Độ)
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
(Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)
Một chiều bỗng thấy hoa lan úa tàn
vườn chiều
vừa mất dáng em (Một lần thóang Có)
Đóa hoa hồng
Vùi quên trong tay
Ôi đường phố dài
Lời ru miệt mài
Ngàn năm ngàn năm
(Tuổi Đá Buồn)

Còn gì đâu những đóa hoa hồng
Vì trái tim tội lỗi lưu vong
(Tưởng rằng đã Quên)

Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi
Từ đó ta là đêm
Nở đóa hoa vô thường ...
(Đóa Hoa Vô Thường)

-Nắng:
Nắng qua mắt buồn
Lòng hoa bướm say
Gọi nắng!
Cho cơn mê chiều
Nhiều hoa trắng bay
(Hạ trắng)
Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím
(Chiều 1 mình qua phố)

-Đá:
Hòn đá lăn trên đồi
hòn đá rớt xuống cành mai
rụng cánh hoa mai vàng
chim chóc hót tiếng qua đời
(Ngẫu Nhiên)
Đá lăn, Vết lăn trầm
(Vết lăn Trầm)

-Trăng:
Từ trăng xưa là nguyệt lòng tôi có đôi khi
Tựa bông hoa vừa mọc hân hoan giây xuống thế (Nguyệt Ca)

-Rừng:
Rừng ơi hãy giữ cho bền nhé,
những cành hoa phai quá không đành.
(Vẫn Có em bên Đời)
Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ cây
Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa
(Rừng Xưa đã khép)

-Thác:
Nhiều đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh ra có khi còn nghe
(Đêm thấy ta là Thác đổ)

-Mưa, Mây, Gió…:
Mưa là một bối cảnh rất phong phú trong lời ca TCS. Nhiều tâm trạng của cuộc đời ẩn dáng trong mưa: Hạnh Phúc, Tan Vỡ, Cô Đơn, Cái Chết ….vv.
Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Ðường dài hun hút cho mắt thêm sâu.
(Diễm Xưa)
Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm trước
Mây qua mây qua môi em hồng nhạt
Chìm dưới cơn mưa một ngàn năm nữa
Mây qua mây qua môi em hồng vừa
(Chìm dưới cơn mưa)
Tiếng ca bắt nguồn từ đất khô
từ mưa gió từ vào trong đá xưa
(Dấu Chân Địa Đàng)
Em đứng lên gọi mưa vào Hạ
Từng cơn mưa từng cơn mưa
Từng cơn mưa mưa thì thầm dưới chân ngà
(Gọi tên 4 mùa)
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Trời mưa, trời mưa không dứt
Ô hay mình vẫn cô lieu
(Lời Buồn Thánh)
Nghe mưa nơi nầy lại nhớ mưa xa
Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ
(Một Cõi Đi Về)
Nay em đã khóc chiều mưa đỉnh cao
Còn gì nữa đâu sương mù đã lâu
Em đi về cầu mưa ướt áo
(Mưa Hồng)
Cơn mưa mùa hạ nồng nàn
Em đi tà áo phiêu bồng trời cao
Em sang từ nắng thủa nào
Hôm nay xin tặng mưa đầu mùa mưa.
Mưa như từng giọt rượu hờ
Đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời
Ôm quanh da thịt chân người người qua
(Mưa Mùa Hạ)
Màu nắng hay là màu mắt em
Mùa thu mưa bay cho tay mềm
(Nắng Thủy Tinh)
Nắng có còn hờn ghen môi em
Mưa có còn buồn trong mắt em
Từ lúc đưa em về
Là biết xa nghìn trùng
(Như Cánh Vạc Bay)
Có những giọt mưa khuya
Thường về thăm tóc rối
Có những giọt mưa khuya
Thương em nói nên lời
(Những Giọt Mưa Khuya)
Đôi khi có mưa giữa khuya hồn tôi bỗng vu vơ ...
(Rồi như Đá Ngây Ngô)
Thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ
(Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng)
Ôi trái tim phiền muộn
đã vui lại một giờ
Như bờ xa nước cạn
đã chìm vào cơn mưa (Tình Nhớ)
Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa...
(Tình Xa)
Trời còn làm mưa
Mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn
Em mang em mang
Đi về giáo đường
(Tuổi Đá Buồn)
Mưa lạnh lùng rơi rớt giữa đêm về
Nghe não nề...
Mưa kéo dài lê thê những đêm khuya
Lạnh ướt mi
(Ướt Mi)
Ta ôm tình nặng trĩu
Nghe quanh đời mưa bão,
(Yêu Dấu Tan Theo)

2)-Cảnh vật: lăng miếu, thành phố, vườn, chợ, gác nhỏ, nấm mộ, con đường…
-Con đường: là cuộc hành trình của đời sống,
Đường nào quạnh hiu tôi đã đi qua
Đường về tình tôi có nắng rất la đà
Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ
Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ
(Bên Đời Quạnh Hiu)

-Vườn :
Chào chiếc lá nằm giữa vườn hoang.
Gửi đâu đó một chút tình riêng.
(Vườn Xưa)


-Thành phố:
Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
(Đêm thấy ta là thác đổ)

-Gác:
Chiều chúa nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
(Lời Buồn Thánh)

3)-Ngày tháng: Đêm, Ngày, bốn mùa, chiều, cuộc đời, ánh sáng, bóng tối
Rồi mùa Xuân không về
Mùa Thu cũng ra đi
Mùa Đông vời vợi
Mùa Hạ khói mây
(Gọi Tên 4 Mùa)

4)-Cầm Thú: Vạt, ngựa, sâu, chim, đàn bò….

Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần
Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng
Vùng u tồi loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng
(Dấu Chân Địa Đàng)

Đàn bò tìm dòng sông
Nhưng dòng nước cạn khô
Đàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn
Rồi một hôm đứng mơ mây ngàn
(Du Mục)

5)-Người nữ: tóc, vai, dáng, áo, mi, tay, chân, tiếng hát, trái tim, tiếng cười, chân, mắt….
Nhân dáng về người nữ nhan nhản trong lời ca TCS. Ông không tả tỉ mỉ về người nữ nhưng chỉ phác họa về những nét chính mà ông muốn nhấn mạnh tới đốt tượng này, thí dụ đôi vai, bàn chân, mái tóc… Bởi vậy các nhân vật nữ của ông rất trừu tượng:

Thương nụ cười
mái tóc buông lơi
Mùa thu úa trên môi
Từng đêm qua ngõ tối
Bàn chân âm thầm nói
Lặng nghe gió đêm nay
Ngại ai buốt đôi vai
Bờ vai như giấy mới
Sợ nghiêng hết tình tôi
(Thương Một Ai)

Đôi khi thấy trong mắt em một bóng tối nhỏ nhoi
(Rồi Như Đá Ngây Ngô)
Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ trên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi
(Như Cánh Vạc bay)
Ta mang cho em một đóa quỳnh
Quỳnh thơm hay môi em thơm
Em mang cho ta một chút tình
Miệng cười khúc khích trên lưng
(Quỳnh Hương)
Ngón tay em dài nên mãi ru thêm ngàn năm
(Ru em từng ngón xuân nồng)
Dài tay em mấy thưở mắt xanh xao
(Diễm Xưa)

6)-Rượu:
Không cần là bác sĩ cũng biết rằng TCS thích rượu vì trong nhạc ông không thiếu men rượu, rượu cùng khắp. Nhìn đâu cũng thấy rượu. Có thể nói rượu chính là người bạn than thiết của ông. Vui cũng rượu, buồn cũng rượu …..
Phải chăng ông cũng như nhiều thi sĩ khác coi rượu là thú tiêu khiển chính của đời sống ?
(Thôi công đâu chuốc lấy sự đời, tiêu khiển một vài chun lếu láo. Cao Bá Quát).


Xin cho tôi là thoáng rượu cay
(Xin Cho Tôi)
Với những cuộc tình bão tố lênh đênh.
Xin có một lần uống chén muộn phiền.
(Vườn Xưa)

Có ai đang về giữa đêm khuya,
rượu tàn phai dưới chân đi ơ hờ
(Nghe những Tàn Phai)

Mưa như từng giọt rượu hờ
Đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
(Mưa Mùa Hạ)

Một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ ngày qua (Một Cõi Đi Về)
Chén rượu cay một đời tôi uống hoài (Phôi Pha)

Có chén rượu chờ trong quán đêm đêm.
Có những bạn bè xanh như người bệnh. (Bay Đi Thầm Lặng)

Hai mươi năm ngục tù sẽ quên
hôm nay chén rượu nồng mừng uống
cho vui mẹ cho vui cha (Đồng Dao Hòa Bình)

Một người ngồi hai mươi năm
Cuộc buồn vui ly rượu đắng (Ngày Dài Trên Quê Hương)

Có ai đang về giữa đêm khuya,
rượu tàn phai dưới chân đi ơ hờ (Nghe những tàn phai)

Ngày về có xóm có làng thân yêu dân hai bên đường chào
Nhà nhà hút khói đêm thâu cơm mâm rượu bầu thủ đô đến thôn nghèo (Ngày Về)

Còn thấy gì sáng mai đây thôi ta còn bạn bè
Giọt rượu nào mãi chua cay trong tình vẫn u mê... (Tình Xa)

Với những thuyền buồm lớp lớp ra sông.
Xin có lời mừng giữa chén rượu nồng.
(Vườn Xưa)

HẾT PHẦN MỘT XIN XEM TIẾP PHẦN HAI


FBấm Đọc Tiếp !

@Đã Có 0 Lời Bàn - Bấm Để Vào Phần Thảo Luận


_______________________________________________________________________